Vai trò của thuốc Y học cổ truyền trong điều trị Viêm gan siêu vi mạn tính

Viêm gan là tình trạng có tổn thương tế bào nhu mô gan do nhiều nguyên nhân khác nhau. Khi tế bào gan bị hủy hoại, màng tế bào bị vỡ làm cho hoạt độ các men gan như AST (SGOT) và ALT (SGPT) tăng cao trong máu. Từ viêm gan cấp nếu không điều trị kịp thời, sẽ diễn tiến thành mạn tính. Khi đó, tùy thuộc cơ địa và thời gian sẽ diễn tiến thành xơ gan hoặc ung thư gan. Trong đó, viêm gan mạn do siêu vi B và C là hai tác nhân quan trọng có tỷ lệ cao đưa đến Xơ gan và Ung thư gan. Nhiều nghiên cứu thực nghiệm và lâm sàng trên bệnh nhân đã được chẩn đoán xác định và theo dõi bằng các tiêu chí của YHHĐ, nhằm xác nhận lại hiệu quả của thuốc YHCT trong điều trị viêm gan siêu vi C mạn.

 

Có nhiều nguyên nhân gây ra viêm gan

  • Do các loại virus A, B, C, D, E… cùng một số virus hướng gan khác như CMV, EBV…
  • Do một số vi khuẩn và vi sinh vật.
  • Do nhiễm độc rượu, hóa chất và một số thuốc.
  • Do yếu tố tự miễn.

Viêm gan siêu vi C mạn tính

Siêu vi C là một trong các nguyên nhân gây viêm gan mạn và bệnh gan giai đoạn cuối quan trọng nhất trên giới. Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), khoảng 3% dân số thế giới nhiễm siêu vi C mạn tính, với khoảng 3-4 triệu người mắc mới mỗi năm. Trong số các bệnh nhân mắc mới, 80% sẽ phát triển thành nhiễm mạn tính, khoảng 10-20% số đó sẽ phát triển thành xơ gan và 1-5% dẫn đến ung thư gan trong khoảng 20-30 năm. Việc sử dụng Peginterferon kết hợp ribavirin được xem là điều trị tiêu chuẩn trên các bệnh nhân viêm gan siên vi C mạn tính. Mới đây, năm 2017, phác đồ được khuyến cáo chung cho các genotype 1a, 1b, 2, 3, 4, 5 là Sofosbuvir và Velpatasvir, dùng 12 tuần, hoặc phác đồ glecaprevir và pibrentavir, các phác đồ trên có tỷ lệ duy trì đáp ứng virus cao. Tuy nhiên, phác đồ này không phải người bệnh nào cũng sử dụng được, cũng như thường gây ra tác dụng ngoại ý trên một lượng lớn bệnh nhân, khiến việc duy trì điều trị với phác đồ này kém.

Thuốc YHCT đã được sử dụng rộng rãi tại châu Á để điều trị các bệnh lý có biểu hiện như viêm gan từ hàng ngàn năm qua. Không có bệnh danh Viêm gan trong YHCT, tuy nhiên thuật ngữ dùng để mô tả bệnh danh có thể khác nhưng triệu chứng và các biểu hiện lâm sàng hoàn toàn giống. Vì vậy, vấn đề đặt ra là các thuốc YHCT dùng để chữa các chứng mô tả giống với biểu hiện bệnh lý Viêm gan, có hiệu quả gì khi ứng dụng điều trị? Chính vì vậy, các thầy thuốc YHCT thực hiện nhiều nghiên cứu thực nghiệm và lâm sàng trên bệnh nhân được chẩn đoán xác định và theo dõi bằng các tiêu chí của YHHĐ, nhằm xác nhận lại hiệu quả của thuốc YHCT trong điều trị viêm gan siêu vi C mạn.

Việc sử dụng thuốc YHCT trong điều trị viêm gan siêu vi tại các nước Đông Nam Á là khá phổ biến. Tại Đài Loan, tính riêng từ năm 2000 đến năm 2010, dữ liệu Cơ quan Bảo hiểm quốc gia báo cáo có 8.567 bệnh nhân VGSV C, trong đó 66,4% bệnh nhân có sử dụng YHCT, trong số đó thuốc YHCT chiếm 52,4%(6). Các dược liệu được kê toa nhiều nhất gồm: Đan sâm, Diên hồ sách, Hoàng cầm, Nhân trần, Sài hồ, Đại hoàng, Hoàng kỳ, Bối mẫu, Cát căn, Dạ giao đằng, Hải phiêu tiêu, trong các bài thuốc: Tiêu dao tán, Tiểu sài hồ, Long đởm tả can thang, Thư kinh hoạt huyết thang, Hương sa lục quân tử thang…

Từ dữ liệu của cơ quan Bảo hiểm y tế quốc gia Đài Loan, nhóm tác giả Fuu-Jen Tsai và cs năm 2019(10) đã sử dụng phương pháp bắt cặp, từ 98.788 bệnh nhân VGSV C mạn, nhóm nghiên cứu chọn ra 829 bệnh nhân sử dụng thuốc YHCT và 829 bệnh nhân không sử dụng thuốc YHCT. Kết quả phân tích cho thấy nhóm có sử dụng YHCT có tỷ lệ tử vong thấp hơn, nguy cơ xơ gan thấp hơn sau khi đã điều chỉnh các bệnh đồng mắc so với nhóm không sử dụng YHCT.

Nhằm mục đích xem xét hiệu quả của các bài thuốc YHCT trong điều trị VGSV C mạn tính, bằng cách so sánh hiệu quả của phác đồ dùng thuốc YHCT có hoặc không có kết hợp với thuốc Tây y (Peginterferon + ribavirin) so với sử dụng thuốc Tây đơn độc, nhóm tác giả Sihai Zhao và cs (2011)   đã đưa vào phân tích 26 nghiên cứu trên 1905 bệnh nhân. Kết quả cho thấy duy trì đáp ứng virus (SVR) cao hơn đáng kể ở nhóm kết hợp thuốc YHCT và thuốc Tây y so với nhóm chỉ sử dụng thuốc Tây y. Ngoài ra, khi kết hợp YHCT với Tây y cũng cho thấy ưu thế hơn có ý nghĩa trong các tiêu chí khác bao gồm đáp ứng virus cuối điều trị, ít đợt bùng phát, ít tác dụng phụ và tốc độ bình thường hoá các men gan nhanh hơn.

Tại Ai Cập, chế phẩm viên bao phim Viron đã được nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng đánh giá tính hiệu quả, an toàn trên bệnh nhân viêm gan siêu vi C mạn tính. Trong đó, mỗi viên Vifon chứa các dược liệu T.cordifolia (dây ký ninh) 200 mg, Glycyrrhiza glabra (Cam thảo)100 mg, Elettaria cardamomum (bạch đậu khấu) 200 mg, Curcuma longa (nghệ) 200 mg, E. alba (Cỏ mực) 200 mg, và Rumex crispus (chút chít) 100 mg. Kết quả cho thấy nhóm sử dụng Viron liều 3 viên/ ngày có hiệu quả đạt tỷ lệ đáp ứng virus cuối điều trị (sau 6 tháng) cao hơn nhóm chỉ sử dụng liều 1 hoặc 2 viên/ ngày. Không có tác dụng phụ nào được ghi nhận ở cả 3 nhóm(8).

Tại Đài Loan, nhóm tác giả Chia-Yu Liu và cs (2016)(7) đã báo cáo kết quả nghiên cứu sử dụng bài thuốc KSY bao gồm 7 loại thảo dược (Đảng sâm, Bạch truật, Bạch linh, Hoàng kỳ, Hoắc hương, Nữ trinh tử, Cam thảo) trên các bệnh nhân VGSV C mạn cho thấy sau 6 tuần can thiệp, nhóm sử dụng bài thuốc KSY có men gan AST, ALT, và tải lượng virus thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm chứng.

Viêm gan siêu vi B mạn tính

Nhiễm virus VGSV B vẫn đang là vấn đề sức khoẻ quan trọng trên toàn thế giới. Ước tính 292 triệu người có HBsAg dương tính trong năm 2016, tức khoảng 3.9% dân số thế giới. VGSV B mạn có thể dẫn tới các đợt viêm gan bùng phát cấp, hậu quả dẫn đến xơ gan, ung thư gan và thậm chí tử vong. Trong những năm qua, các thuốc kháng virus bao gồm interferon và các nucleotide analogues hiện là điều trị được khuyến cáo rộng rãi, và cho thấy giảm được số đợt bùng phát viêm gan cấp trên bệnh nhân VGSV B mạn và làm chậm diễn tiến bệnh. Tuy nhiên số người nhiễm HBV trên toàn thế giới vẫn không giảm.

Thuốc YHCT được sử dụng nhiều cho bệnh nhân viêm gan ở các nước châu Á: Trung Quốc 30-50%, Đài Loan 27,6%. Wan-Ling Chen và cs (2019)(2) báo cáo kết quả nghiên cứu trên dân số Đài Loan (2000-2013) bị mới mắc VGSV B. Khi điều tra về tiền sử sử dụng thuốc YHCT, nhóm nghiên cứu báo cáo thuốc YHCT làm giảm có ý nghĩa số đợt bùng phát cấp. Ngoài ra, khi quan sát về nguy cơ xơ gan và ung thư gan, thuốc YHCT cũng cho thấy khả năng làm giảm nguy cơ so với không dùng thuốc YHCT. Kết quả này gợi ý rằng thuốc YHCT có khả năng làm giảm đợt bùng phát viêm gan cấp và giảm nguy cơ xơ gan, ung thư gan trên bệnh nhân VGSV B mạn.

Trước đó, nhóm tác giả Tzung-Yi Tsai và cs (2017)(13) cũng tiến hành nghiên cứu trên 21.020 bệnh nhân mới chẩn đoán VGSV B mạn (Đài Loan, 1998-2007). Trong đó, 8.640 bệnh nhân có điều trị bằng YHCT và 12.380 bệnh nhân không sử dụng thuốc YHCT (nhóm chứng). Tất cả các bệnh nhân trên được theo dõi đến năm 2012 và xem xét kết cục ung thư gan (HCC). Kết quả cho thấy tỷ lệ ung thư gan của nhóm sử dụng thuốc YHCT là 5,28% / 1000 dân, thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm không sử dụng thuốc YHCT (10,18% / 1000 dân). Các dược liệu được kê toa nhiều nhất là Bạch hoa xà thiệt thảo, Bán chi liên, Hải phiêu tiêu, Hổ trượng, Hương phụ, Nhân trần, Sơn tra, Sinh dịa, Bản lam căn, Thiên hoa phấn. Các bài thuốc được kê toa nhiều nhất là Tiểu sài hồ thang, Ngũ linh tán, Gia vị tiêu dao tán, Cam lộ ẩm, Sài hồ sơ can thang, Nhân trần ngũ linh tán, Long đởm tả can thang.

Gần đây, Tzung-Yi Tsai và cs (2018)(13) đã công bố kết quả nghiên cứu ở bệnh nhân VGSV B mạn cho thấy nhóm bệnh nhân sử dụng thuốc YHCT làm giảm nguy cơ tử vong 56% so với nhóm không sử dụng. Trong nhóm sử dụng thuốc YHCT, thì các vị thuốc được kê toa nhiều nhất là Đan sâm, Diên hồ sách, Hải phiêu tiêu, Bối mẫu, Hoàng kỳ, Uất kim, Bạch hoa xà thiệt thảo, Cát căn, Hoàng cầm, Miết giáp. Các bài thuốc được kê toa nhiều nhất là Gia vị tiêu dao tán, Tiểu sài hồ thang, Thư kinh hoạt huyết thang, Sài hồ sơ can thang, Bình vị tán, Long đởm tả can thang, Thược dược cam thảo thang, Hương sa lục quan tử thang, Nhân trần ngũ linh tán, Huyết phủ trục ứ thang. Nhóm tác giả Der-Shiang Tsai và cs (2015)(9)cũng cho kết luận tương tự.

Nhằm mục tiêu đánh giá hiệu quả và an toàn của thuốc YHCT trong việc chống sự nhân đôi của HBV ở người lành mang HBV mạn tính, nhóm nghiên cứu Jinsong He và cs (2013)(4)tiến hành nghiên cứu tại 16 trung tâm tại Trung Quốc, theo dõi trong 52 tuần (1 năm). Kết quả cho thấy tỷ lệ đáp ứng virus ở nhóm có dùng thuốc YHCT cao hơn nhóm còn lại.

Phyllanthus là chi lớn nhất trong họ Phyllanthaceae, nhiều loài trong chi này đã được sử dụng trong YHCT để điều trị bệnh gan mạn tại các quốc gia như Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam. Trong những năm qua, các nghiên cứu in vitro và in vivo của một số loài thuộc chi Phyllanthus đã báo cáo kết quả kháng HBV, ức chế men polymerase, gây ức chế phiên mã và nhân đôi của HBV. Các nghiên cứu lâm sàng cũng đã đưa ra những báo cáo về hiệu quả và an toàn của Phyllanthus amarus trong điều trị trên bệnh nhân HBV có khả năng làm chuyển đổi huyết thanh. Một nghiên cứu phân tích gộp từ 22 nghiên cứu (n=1947) cho thấy tiềm năng hiệu quả của chi Phyllanthus trong việc làm âm tính tính HBsAg, HBeAg, HBV-DNA, bình thường hoá men gan khi kết hợp với Adefovir hơn là sử dụng đơn độc Adefovir. Một phân tích gộp khác thực hiện vào năm 2011, tổng hợp 16 nghiên cứu (n=1326) cho thấy nhóm sử dụng Phyllanthus kết hợp thuốc kháng virus tốt hơn thuốc kháng virus đơn độc(1).

Ngoài Diệp hạ châu thì Khổ sâm cũng là vị thuốc tiềm năng trong điều trị VGSV B mạn. Các nghiên cứu in vitro và in vivo chứng minh tác dụng của Khổ sâm bao gồm: kháng viêm, kháng sinh, kháng virus, kháng u, hạ sốt. Tại Trung Quốc, Khổ sâm được sử dụng rộng rãi trong điều trị VGSV B mạn. Tuy nhiên, bằng chứng về lợi ích của việc dùng Khổ sâm trên bệnh nhân VGSV B mạn vẫn chưa được làm rõ qua các nghiên trước đây. Do đó, nhằm mục tiêu đánh giá lại lợi ích của Khổ sâm so với placebo hoặc không can thiệp trên các bệnh nhân VGSV B mạn, nhóm tác giả Ning Liang và cs (2019)(5) phân tích gộp 35 nghiên cứu (n=3556) với thời gian can thiệp từ 1 tháng đến 24 tháng. Kết quả phân tích cho thấy sử dụng Khổ sâm làm giảm tỷ lệ huyết thanh dương tính HBV-DNA và giảm tỷ lệ dương tính HBeAg. Kết quả cho thấy tỷ lệ chuyển đổi huyết thanh HBeAg trong nhóm điều trị cao hơn có ý nghĩa so với nhóm chứng. Tác dụng phụ không khác biệt giữa nhóm dùng Khổ sâm và nhóm placebo hoặc không can thiệp.

Những kết quả nghiên cứu trên chứng thực rằng việc sử dụng thuốc YHCT hỗ trợ tốt hơn là không sử dụng thuốc YHCT trong điều trị viêm gan siêu vi C và B mạn tính. Kết quả nghiên cứu xác nhận thuốc YHCT có thể giải quyết.

  • Hạ và ổn định men gan.
  • Phối hợp cùng thuốc kháng Virus Tây y mang lại kết quả tốt hơn là chỉ dùng thuốc Tây Y đơn độc, làm giảm hoặc biến mất tỷ lệ huyết thanh dương tính sớm và nhanh hơn khi chỉ dùng kháng virus của Tây y.
  • Có tác dụng làm giảm nguy cơ gây xơ gan và ung thư gan.
  • Điều trị các biến chứng do viêm gan mạn như ngứa, rối loạn tiêu hóa, xuất huyết, thiếu máu…

Mặc dù công trình nghiên cứu chưa nhiều, nhưng trên diện rộng thuốc YHCT đã minh chứng hiệu quả của nó trong việc điều trị Viêm gan siêu vi B, C mạn tính.

 

Tài liệu tham khảo

  1. Baiguera, Chiara, et al. (2018), “Phyllanthus niruri versus Placebo for Chronic Hepatitis B Virus Infection: A Randomized Controlled Trial”, Complementary medicine research. 25.
  2. Chen, Wan-Ling, et al. (2019), “Chinese herbal medicine reduces acute hepatitis exacerbation in patients with hepatitis B virus infection: A case-control study in Taiwan”, Complementary therapies in medicine. 42, pp. 248-254.
  3. Freedman, N. D., et al. (2011), “Silymarin use and liver disease progression in the Hepatitis C Antiviral LongTerm Treatment against Cirrhosis trial”, Alimentary pharmacology & therapeutics. 33(1), pp. 127-137.
  4. He, Jinsong, et al. (2013), “Efficacy and safety of a chinese herbal formula (invigorating kidney and strengthening spleen) in chronic hepatitis B virus carrier: results from a multicenter, randomized, double-blind, and placebo-controlled trial”, Evidence-Based Complementary and Alternative Medicine. 2013.
  5. Liang, Ning, et al. (2019), “Radix Sophorae flavescentis versus no intervention or placebo for chronic hepatitis B”, Cochrane Database of Systematic Reviews(4).
  6. Liu, Chia-Yu, et al. (2016), “Utilization and prescription patterns of traditional Chinese medicine for patients with hepatitis C in Taiwan: a population-based study”, BMC complementary and alternative medicine. 16(1), p. 397.
  7. Liu, Chia-Yu, et al. (2016), “The Chinese medicine Kuan-Sin-Yin improves liver function in patients with chronic hepatitis C: A randomised and placebo-controlled trial”, Complementary therapies in medicine. 27, pp. 114-122.
  8. Shawkat, Hisham, et al. (2015), “Efficacy and safety of a herbal mixture (Viron® tablets) in the treatment of patients with chronic hepatitis C virus infection: a prospective, randomized, open-label, proof-of-concept study”, Drug design, development and therapy. 9, p. 799.
  9. Tsai, Der-Shiang, et al. (2015), “The use of Chinese herbal medicines associated with reduced mortality in chronic hepatitis B patients receiving lamivudine treatment”, Journal of ethnopharmacology. 174, pp. 161-167.
  10. Tsai, Fuu-Jen, et al. (2019), “Effects of Chinese herbal medicine therapy on survival and hepatic outcomes in patients with hepatitis C virus infection in Taiwan”, Phytomedicine. 57, pp. 30-38.
  11. Zhao, Sihai, et al. (2011), “Interferon plus Chinese herbs are associated with higher sustained virological response than interferon alone in chronic Hepatitis C: a meta-analysis of randomised trials”, Antiviral research. 89(2), pp. 156-164.
  12. Tsai, Tzung-Yi, et al. (2018), “Chinese herbal medicine therapy and the risk of mortality for chronic hepatitis B patients with concurrent liver cirrhosis: a nationwide population-based cohort study”, Oncotarget. 9(26), pp. 18214-18223.
  13. Tsai, Tzung-Yi, et al. (2017), “Associations between prescribed Chinese herbal medicine and risk of hepatocellular carcinoma in patients with chronic hepatitis B: a nationwide population-based cohort study”, BMJ open. 7(1), pp. e014571-e014571.
  14. Zhang, Yang, et al. (2019), “Effect of WSP, a Chinese Herbal Formula, on Th17/Treg Ratio and HBeAg Seroconversion in Telbivudine-Treated HBeAg-Positive Chronic Hepatitis B Patients with High Baseline ALT Levels (20-30 Times the ULN)”, Evidence-based complementary and alternative medicine: eCAM. 2019, pp. 7260369-7260369.

PGS. TS. BS Nguyễn Thị Bay

Nguyên Trưởng bộ môn Bệnh học

Khoa Y học cổ truyền, ĐH Y dược TP. HCM

Theo Tạp chí Sức Khỏe – khoe24h.vn

Phản hồi của bạn

Cùng chuyên mục

Ba thầy thuốc mát tay nhất trên thế giới!

Không ít bệnh nhân ung thư đang "rối mù" vì những chỉ dẫn của những người “nhiệt tình có thừa”, nhưng không có kiến thức nền, không phải là bác sĩ trong lĩnh vực dinh …

Đừng bình chân như vại chờ … bệnh!

Trong nhiều bài viết, qua nhiều tham luận, bác sĩ Lương Lễ Hoàng (LLH) đã liên tục cổ động cho thói quen vận động, đặc biệt ở người bệnh tiểu đường, căn bệnh được Tổ …

Không keo dễ gì dán dính!

Nhờ nhiều công trình nghiên cứu nên ngày nay thầy thuốc từ Đông sang Tây đều rõ về vai trò quan trọng của vận tốc luân lưu trong mạng lưới mạch máu, nhất là trong …

Trò chuyện cùng TS. BS Trần Chí Cường: Vì bệnh nhân là số một

Khánh thành vào ngày 20/02/2019 với quy mô xây dựng trên 10 tầng, trang thiết bị hiện đại nhất, phục vụ chẩn đoán, điều trị, tầm soát đột quỵ tim mạch, cơ xương khớp chuyên …

Viêm Amidan – Khi nào cần phải cắt?

Amidan được xem là hệ thống miễn dịch phòng thủ đầu tiên chống lại vi khuẩn và vi rút xâm nhập vào miệng của bạn. Tuy nhiên, khi tình trạng viêm amidan đến mức “hành” …

Hỗ trợ 24/7
Gửi câu hỏi