Những điều cần biết về nhiễm Helicobacter pylori ở trẻ em

Nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori rất phổ biến trên toàn thế giới và tại Việt Nam

Helicobacter pylori (được gọi tắt là H. pylori) là một loại vi khuẩn được tìm thấy trong dạ dày. Nhiễm vi khuẩn này rất phổ biến trên toàn thế giới và tại Việt Nam. Trên thế giới, hơn một nửa dân số nhiễm H. pylori. Ở Việt Nam, cứ 10 người bao gồm người lớn và trẻ em thì có 7 đến 8 người có nhiễm H. pylori. Riêng ở trẻ em, tỉ lệ nhiễm thấp hơn ở người lớn và thay đổi tuỳ theo địa phương.

 

Nhiễm H. pylori thường gây bệnh lý dạ dày và đa số không có biểu hiện triệu chứng nào đặc trưng

Mặc dù số lượng người nhiễm vi khuẩn H. pylori rất nhiều, nhưng chỉ có khoảng từ 15-20% trường hợp có khả năng tiến triển thành bệnh lý. H. pylori là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra viêm và loét hoặc loét niêm mạc dạ dày và tá tràng (phần đầu tiên của ruột non). Trường hợp loét sâu có thể gây thủng dạ dày tá tràng. Nhiễm H. pylori ở người lớn là một trong những yếu tố có liên quan đến ung thư dạ dày nhưng không phải cứ có nhiễm vi khuẩn H. pylori là chắc chắn sẽ bị ung thư dạ dày mà còn tùy thuộc vào cơ địa, các yếu tố nguy cơ khác.

Tuy nhiên, hầu hết những người bị H. pylori không biểu hiện bất kỳ triệu chứng nào. Khi có triệu chứng, thông thường do nhiễm H. pylori gây tổn thương niêm mạc dạ dày, biểu hiện như: đau bụng kéo dài, ói kéo dài, ợ hơi, ợ chua, kém ăn, ăn mau no, chậm tăng trưởng. Trường hợp nặng, trẻ có thể tiêu phân đen như bả cà phê, ói máu do chảy máu trong dạ dày, tá tràng. Một số trẻ bị nhiễm H. pylori kéo dài cũng có thể bị thiếu máu do thiếu sắt.

 

Lây nhiễm H. pylori có thể qua tiếp xúc người sang người và từ đường ăn uống

Hiện nay, các nhà khoa học vẫn chưa hoàn toàn biết rõ H. pylori lây lan như thế nào. H. pylori có thể tìm thấy trong dạ dày, trong nước bọt, trong phân và nước tiểu. Do đó, nguồn lây có thể là truyền từ người này sang người khác, thông qua tiếp xúc trực tiếp với nước bọt, chất nôn ói phân hay thực phẩm và nguồn nước nhiễm bẩn. Sống trong điều kiện đông đúc hoặc vệ sinh kém có thể làm dễ lây nhiễm H. pylori hơn.

 

Nội soi dạ dày sinh thiết để tìm H. pylori là xét nghiệm chẩn đoán chính xác nhất

Xét nghiệm tìm H. pylori rất đa dạng, có thể thử máu, phân, nước tiểu, hơi thở và nội soi dạ dày. Tuy nhiên, ở trẻ em, hiện nay, có 3 xét nghiệm có giá trị và phổ biến bao gồm:

  • Nội soi dạ dày: Đây là xét nghiệm ưu tiên nếu trẻ có triệu chứng nghi ngờ bệnh viêm loét dạ dày tá tràng vì có thể giúp đánh giá mức độ tổn thương nặng nhẹ ở dạ dày; xác định có sự hiện diện của vi khuẩn H. pylori trong dạ dày hay không bằng cách quan sát mẫu mô sinh thiết dưới kính hiển vi; hoặc xét nghiệm tìm men urease do vi khuẩn tiết ra trên mẫu sinh thiết; hoặc nuôi cấy vi khuẩn làm kháng sinh đồ đánh giá khả năng nhạy và kháng thuốc để có hướng điều trị phù hợp.
  • Xét nghiệm hơi thở: Trẻ sẽ thổi hơi vào túi sau khi uống dung dịch thuốc chứa chất đánh dấu. Sau đó, hơi thở được phân tích và cho biết có hiện diện vi khuẩn hay không. Xét nghiệm này đòi hỏi trẻ phải hợp tác thở đúng cách và có thể khó thực hiện ở trẻ nhỏ.
  • Xét nghiệm phân: Tìm kiếm sự hiện diện của H. pylori trong mẫu phân của trẻ.

Để đảm bảo các xét nghiệm này chính xác, trẻ cần ngưng các loại thuốc làm giảm acid trong dạ dày ít nhất 2 tuần và ngưng kháng sinh ít nhất 4 tuần.

Mặc dù xét nghiệm hơi thở, phân không xâm lấn và dễ thực hiện, nhưng chỉ cho biết có hay không sự hiện diện của H. pylori trong cơ thể mà không xác định được mức độ nghiêm trọng của nhiễm trùng.

Đối với xét nghiệm máu, xét nghiệm này tìm kháng thể kháng vi khuẩn H. pylori trong máu, không phản ánh chính xác tình trạng nhiễm nên không được khuyến cáo ở trẻ em.

Nhiễm vi khuẩn H. pylori ở trẻ em hoàn toàn có thể điều trị được

Nhiễm H. pylori được điều trị khi trẻ có tổn thương viêm loét dạ dày tá tràng rõ ràng trên nội soi và kết quả các xét nghiệm sinh thiết có hiện diện H. pylori.

Điều trị bằng cách phối hợp ít nhất 2 loại kháng sinh để tiêu diệt vi khuẩn, thuốc ngăn chặn acid và chất bảo vệ niêm mạc dạ dày để đảm bảo kháng sinh có tác dụng. Các thuốc kháng sinh thường được uống sau ăn, các thuốc giảm acid thường uống trước ăn từ 30 đến 60 phút. Thời gian điều trị kháng sinh thường kéo dài trong 14 ngày. Thời gian điều trị các thuốc giúp giảm viêm chữa lành vết loét ở dạ dày và tá tràng có thể đến 4 – 8 tuần.

Các loại kháng sinh được sử dụng phổ biến nhất hiện nay ở trẻ em là amoxicillin, metronidazole, clarithromycin và tetracycline. Lựa chọn phối hợp kháng sinh nào có thể dựa trên kết quả nuôi cấy giúp xác định được loại kháng sinh phù hợp nhất cho trẻ.

 

Điều trị H. pylori còn nhiều trở ngại

Hiện nay, tình trạng H. pylori kháng lại kháng sinh ngày càng phổ biến. Có khoảng hơn 20% các trường hợp không tiệt trừ sạch vi khuẩn H. pylori sau đợt điều trị đầu tiên, khi đó, trẻ phải dùng phác đồ điều trị thứ hai làm kéo dài thời gian điều trị.

Uống thuốc đúng cách, đúng liều và đủ thời gian rất quan trọng, quyết định sự thành công của điều trị H. pylori. Vì vậy, trẻ phải tuân thủ nghiêm ngặt các hướng dẫn dùng thuốc và trẻ phải được xét nghiệm kiểm tra sau điều trị để đảm bảo rằng nhiễm trùng đã hết. Thông thường, trẻ sẽ được xét nghiệm hơi thở hoặc xét nghiệm phân mà không cần phải nội soi dạ dày lại. Tuy nhiên, có thể mất vài tuần đến vài tháng để các triệu chứng biến mất hoàn toàn.

Tác dụng phụ của thuốc có thể ảnh hưởng đến quá trình điều trị. Có tới 50% các trẻ gặp tác dụng phụ trong khi điều trị H. pylori. Đa số các tác dụng phụ thường nhẹ và chấp nhận được. Chỉ khoảng 10% trẻ từ bỏ điều trị vì tác dụng phụ. Một số tác dụng phụ phổ biến như cảm giác đắng miệng, vị kim loại khi uống metronidazole hay clarithromycin; phân màu đen khi dùng Bismuth; đau bụng co thắt, tiêu chảy, táo bón khi dùng các thuốc kháng sinh khác.

 

Phòng ngừa lây nhiễm H. pylori không khó

Ăn uống chung thức ăn, nước uống, sử dụng chung chén, đũa, ly, vệ sinh cá nhân kém là những yếu tố nguy cơ gây nhiễm H. pylori. Vì vậy, đối với trẻ em, sự lây lan của nhiễm H. pylori có thể được ngăn chặn bằng cách có thói quen ăn uống và vệ sinh sạch sẽ. Chỉ cho trẻ dùng thức ăn và nước nấu chín, giữ gìn vệ sinh cá nhân, nơi ở, rửa tay thường xuyên và đặc biệt không ăn chung, uống chung, dùng chung các vật dụng cá nhân.

Khi trẻ có biểu hiện nghi ngờ nhiễm H. pylori, trẻ cần đến bác sĩ nhi khoa hay bác sĩ chuyên khoa Tiêu hoá nhi để được khám, tư vấn, chỉ định xét nghiệm và điều trị phù hợp tránh tái phát, tái nhiễm và kháng thuốc.

Tái nhiễm H. pylori rất dễ nếu không phòng ngừa tốt

Ở những vùng đông dân cư, tỉ lệ nhiễm H. pylori trong cộng đồng cao thì trẻ rất dễ bị tái nhiễm H. pylori nếu không đảm bảo tuân thủ các biện pháp phòng ngừa. Theo thống kê, khoảng 5-25% các trường hợp sau điều trị, trẻ bị tái nhiễm.

BS CKI Nguyễn Cẩm Tú

Trưởng khoa Tiêu hóa – BV Nhi Đồng TP

Theo Tạp chí Sức Khỏe – khoe24h.vn

 

 

 

 

 

 

 

 

Phản hồi của bạn

Cùng chuyên mục

Táo bón ở trẻ em

Nhiều trẻ có thể đi cầu 2-3 lần một ngày, ngược lại có những trẻ chỉ đi cầu 2 lần trong một tuần và điều này gây ra nhiều ưu phiền cho các bậc phụ …

Hẹp da quy đầu - Bố mẹ hoang mang, con trẻ ám ảnh!

Không ít người trong số chúng ta không khỏi băn khoăn hay đôi lúc hoang mang về tình trạng da quy đầu của con. Đôi khi đứa trẻ được khám và xử lý ở một …

Phòng ngừa viêm da cơ địa (Chàm) trên trẻ nhỏ

Chàm là một bệnh về da vô cùng phổ biến trên trẻ em. Tuy không nguy hiểm đến tính mạng, nhưng vô cùng phiền hà, gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh …

Trẻ đau bụng thường xuyên có thể đang mắc rối loạn lo âu

Nếu như ở người lớn, rối loạn tiêu hóa (RLTH) như hội chứng ruột kích thích đã được chứng minh có liên quan đến những rối loạn tâm trí, đặc biệt là rối loạn lo …

Nguy hiểm, bệnh viêm cơ tim ở trẻ em

Bệnh viện Nhi đồng Thành phố đã từng tiếp nhận nhiều trẻ bị viêm cơ tim với tình trạng rất nặng. Nguy hiểm ở chỗ, bệnh khó phát hiện khi các triệu chứng khởi đầu …

Hỗ trợ 24/7
Gửi câu hỏi