Loãng xương dưới góc nhìn của YHCT

Những năm qua, số lượng các nghiên cứu đánh giá hiệu quả và an toàn của các phương pháp YHCT trong điều trị loãng xương được công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế này càng tăng. Hệ thống Y học cổ truyền (YHCT) châu Á (Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan… ) được ứng dụng trong thực hành chăm sóc sức khỏe qua hàng ngàn năm tại các nước bản địa và hiện nay vẫn giữ vai trò quan trọng. Tại một số quốc gia châu Á, YHCT được sử dụng rộng rãi như liệu pháp đơn trị liệu hoặc kết hợp với Tây y để điều trị loãng xương.

 

Loãng xương là bệnh lý mà diễn tiến của nó được các chuyên gia bệnh học xương khớp ví von như tên ăn cắp thầm lặng. Nó rút tỉa dần khối lượng xương hằng ngày, dẫn đến phá vỡ cấu trúc xương làm giảm sức mạnh của bộ xương mà trong nhiều trường hợp chủ nhân không hề hay biết, thậm chí chỉ nhận ra khi đã gãy xương. Điều này mang tính chất cảnh báo cho mỗi chúng ta cần quan tâm đến sức khỏe của mình, nhất là khi bắt đầu có tuổi.

Với quy luật “Sinh, Lão, Bệnh, Tử” tác động trên mỗi đời người, từng bộ phận cơ thể lão hóa dần và bộ xương cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Từ khi sinh ra, xương phát triển theo cơ chế tự nhiên là hai quá trình tạo xương và hủy xương, xảy ra đồng thời với nhau. Khi người ta còn trẻ, quá trình tạo xương chiếm ưu thế, xương ngày một phát triển, các bè xương to ra và cứng chắc. Đến tuổi trưởng thành, hai quá trình tạo – hủy cân bằng với nhau, xương luôn cứng chắc tạo nên hình ảnh một con người tràn đầy sinh lực. Khi tuổi cao, quá trình tạo xương giảm nhưng hủy xương lại thắng thế. Lúc đó, các bè xương mỏng đi không còn chắc khỏe, số lượng bè xương giảm, tạo ra các khoang rỗng bên trong xương, tình trạng này được gọi là xốp xương hoặc loãng xương.

Loãng xương thường tiến triển âm thầm, không biểu hiện triệu chứng. Khi loãng xương diễn tiến đến mức độ nặng, lúc đó mới có dấu chứng rõ rệt như hình ảnh gù lưng hoặc gãy xương do té ngã bởi chấn thương nhẹ, hoặc thậm chí không chấn thương gọi là gãy xương tự nhiên khi có mật độ xương quá thấp. Chỉ một số trường hợp có biểu hiện sớm hơn như cảm giác nóng trong xương, đau dọc xương dài hoặc đau mỏi lưng khi đứng lâu hoặc ngồi lâu. Với các biểu hiện mơ hồ này, Y học cổ truyền (YHCT) cũng có mô tả trong bệnh cảnh “Cửu lập thương cốt – thuộc Ngũ lao sở thương” thuộc phạm trù của chứng Hư lao, từ đó các y gia lưu truyền các phương pháp điều trị bệnh lý có mối tương quan gần với loãng xương nói trên như Tập luyện, Châm cứu và dùng thuốc. Ngoài các phương pháp không dung thuốc, tùy thuộc vào cơ địa mà sẽ có các bài thuốc cổ phương như Nhị tiên thang, Độc hoạt tang ký sinh thang, Quy thược địa hoàng, Lục vị gia giảm…

Hệ thống Y học cổ truyền (YHCT) châu Á (Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan…) được ứng dụng trong thực hành chăm sóc sức khỏe qua hàng ngàn năm tại các nước bản địa và hiện nay vẫn giữ vai trò quan trọng (8). Tại một số quốc gia châu Á, YHCT được sử dụng rộng rãi như liệu pháp đơn trị liệu hoặc kết hợp với Tây y để điều trị loãng xương (7). Các nghiên cứu theo dõi dài hạn cho thấy sử dụng thuốc YHCT làm giảm nguy cơ gãy xương (17), và có mối quan hệ liều đáp ứng: khi thời gian sử dụng thuốc YHCT càng dài, tần suất gãy xương càng thấp (2).

Trong phạm vi bài viết này chúng tôi cập nhật những nghiên cứu trong 5 năm gần đây (2014-2019) nhằm giúp cung cấp bằng chứng mới trong thực hành lâm sàng ứng dụng YHCT quản lý loãng xương.

Thái cực quyền

Hướng dẫn quản lý loãng xương của Hiệp hội nội tiết lâm sàng Hoa Kỳ đưa ra khuyến cáo về việc tập luyện. Trong đó, các bài tập mang nặng (như đi bộ 30-40 phút kèm theo bài tập lưng và tư thế trong vài phút, 3-4 lần/ngày) có lợi ích làm tăng mật độ chất vi lượng trong xương (Bone mineral density, BMD) trên bệnh nhân loãng xương sau mãn kinh, chậm mất xương, cải thiện thăng bằng và sức cơ, giúp giảm nguy cơ té ngã (1).

Bên cạnh đó, các nghiên cứu sử dụng các phương pháp tập luyện của YHCT ghi nhận tác dụng của Thái cực quyền trong phòng ngừa té ngã trong cộng đồng, cũng như tác dụng cải thiện mật độ xương đáng quan tâm trên bệnh nhân loãng xương.

Một nghiên cứu gần đây so sánh tác dụng của Thái cực quyền truyền thống (TTC), Thái cực quyền có kháng lực giản lược (TCRT) và vận động thường quy (C) trên bệnh nhân loãng xương sau mãn kinh của Wang Huiru và cs (2015) (13) tiến hành trên 119 bệnh nhân từ 52-65 tuổi, thời gian nghiên cứu dài 12 tháng. Phác đồ tập luyện: nhóm TTC tập luyện Thái cực quyền Dương thức cổ điển 4 lần/tuần, mỗi lần 60 phút; nhóm TCRT tập bài Thái cực quyền giản lược có kháng lực do tác giả thiết kế gồm 4 tổ hợp, mỗi tổ hợp 8 động tác, kháng lực được đưa vào tổ hợp cuối cùng, thời gian tập luyện như nhóm TTC; nhóm đối chứng (C) chỉ vận động theo thường quy. Kết quả trên BMD cột sống thắt lưng L2-L4 bằng phương pháp DXA cho thấy có cải thiện BMD ở nhóm TCRT so với trước nghiên cứu, cũng như sự cải thiện BMD tốt hơn nhóm TTC và nhóm vận động thường quy.

Châm cứu

Châm cứu được sử dụng rộng rãi trong điều trị loãng xương ở các nước châu Á, hiện nay rất nhiều các nghiên cứu lâm sàng điều trị loãng xương bằng châm cứu đã được xuất bản.

Haixiong Lin và cộng sự (2019) (16) tổng kết tình hình nghiên cứu châm cứu trong điều trị loãng xương đã báo cáo có 218 nghiên cứu lâm sàng và 10 phân tích gộp, trong đó có 212 công thức huyệt, 102 huyệt, 13 đường kinh, 3 kỳ kinh bát mạch, và một huyệt A thị được sử dụng để điều trị loãng xương. Tổng hợp kết quả như: Châm huyệt Thận du, Tỳ du, Mệnh môn giúp giảm mất xương tăng BMD xương đùi, cải thiện vi cấu trúc xương, thúc đẩy hình thành xương, hồi phụ thể tích xương, tăng cường tiết testosterone. Châm cứu nhóm huyệt Túc tam lý, Tam âm giao, Thái khê giúp tăng BMD xương chày, tăng nồng độ oestradiol, cải thiện ALP huyết thanh, giảm DPD huyết thanh, thúc đẩy hình thành xương, tăng chức năng miễn dịch, tăng cường cân bằng nội môi của cơ thể.

Nghiên cứu về tác dụng của các hình thức châm cứu khác nhau trong điều trị loãng xương (12) cho thấy hình thức ôn châm có hiệu quả hơn Tây y trong việc làm tăng BMD cột sống thắt lưng, BMD xương đùi, và giảm đau. Trong khi điện châm cho thấy hiệu quả giảm đau tốt hơn Tây y, nhưng không có ưu thế hơn Tây y trong việc làm tăng BMD.

Ngoài ra, cấy chỉ là hình thức châm cứu đang được áp dụng phổ biến tại Việt Nam và Trung Quốc. Ưu điểm của cấy chỉ là kéo dài thời gian kích thích huyệt, giảm chi phí đi lại của bệnh nhân. Fan Huang và cộng sự (2019) (15) cho thấy cấy chỉ ngoài việc làm tăng BMD tại cột sống thắt lưng và xương đùi còn có tác dụng giảm đau và nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân loãng xương. Các huyệt cấy chỉ với tần suất cao bao gồm Thận du (BL23), Tỳ du (BL20), Túc tam lí (ST36), Can du (BL18), Tam âm giao (SP6).

Liệu pháp thảo dược

Về phía Tây y, mặc dù hiện có nhiều chiến lược điều trị loãng xương, tuy nhiên liệu pháp dùng thuốc vẫn đóng vai trò chủ yếu. Các thuốc được sử dụng bao gồm hormone thay thế, chất đồng vận – đối vận estrogen, calcitonin, bisphosphonate, denosumab, parathyroid hormone (PTH), strontium ranelate. Nghiên cứu cho thấy những nhóm thuốc này có hiệu quả trong giảm gãy xương cột sống tái phát trên nền bệnh nhân được bổ sung đầy đủ calci và vitamin D. Tuy nhiên, chúng không tác động đến nguy cơ gãy cột sống mới, đối với gãy xương ngoài cột sống chỉ một số thuốc có bằng chứng như alendronate, risedronate, zoledronic acid, denosumab, PTH (4). Vấn đề sử dụng thuốc trong thời gian dài và tác dụng phụ khiến bệnh nhân khó tuân thủ, điều này trở thành vấn đề đáng quan tâm trong điều trị loãng xương (14). Bên cạnh đó, các liệu pháp thảo dược đã được sử dụng lưu truyền rộng rãi ở bệnh nhân loãng xương và gần đây có nhiều nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá hiệu quả cũng như tính an toàn khi sử dụng các liệu pháp này.

Deng Wei-min và cộng sự (2012) (5) tiến hành nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm, thời gian theo dõi 5 năm để đánh giá hiệu quả của Fufang (gồm 6 loại thảo dược Dâm dương hoắc – Herba epimedii, Thục địa – Rehmannia glutinosa, Hoài sơn – Dioscorea batatas, Sơn thù – Cornus officinalis, Nhục quế – Cinnamomum cassia, Cốt toái bổ – Drynaria fortunei, Ba kích – Morinda officinalis) trên bệnh nhân loãng xương sau mãn kinh. Tổng cộng có 194 bệnh nhân (47-70 tuổi) đưa vào nghiên cứu, trong đó có 105 bệnh nhân được uống thuốc thảo dược Fufang và 93 bệnh nhân dùng giả dược. Cả hai nhóm đều được bổ sung hàng ngày với calcium (600 mg) và vitamin D (400 IU). Sau 5 năm, 155 đối tượng đã hoàn thành nghiên cứu kết quả cho thấy nhóm điều trị có BMD tăng đáng kể so với ban đầu, trong khi nhóm chứng không những không tăng mà còn giảm đáng kể so với ban đầu. Sau 5 năm tỷ lệ gãy xương ở nhóm điều trị giảm gấp 2.4 lần so với nhóm chứng và không có tác dụng bất lợi đáng chú ý nào được ghi nhận ở cả hai nhóm. Kết luận cho thấy Fufang an toàn trong ngăn ngừa loãng xương sau mãn kinh và làm giảm nguy cơ gãy xương.

Li Jin-Yu và cộng sự (2017) (10) phân tích gộp 8 công trình nghiên cứu lâm sàng có đối chứng, đánh giá tác dụng của Nhị tiên thang (EXD) [thành phần gồm Epimedii Folium (Dâm dương hoắc), Curculiginis Rhizoma (Tiên mao), Morindae Offcinalis Radix (Ba kích thiên), Anemarrhenae rhizoma (Tri mẫu), Phellodendri Chinensis Cortex (Hoàng bá), Angelicae sinensis radix (Đương quy)] trong điều trị loãng xương. Tổng số bệnh nhân đưa vào phân tích là 644, tuổi từ 40 đến 70, nhóm can thiệp sử dụng EXD đơn độc hoặc kết hợp thuốc Tây y, liều EXD khác nhau tùy nghiên cứu, nhóm chứng sử dụng thuốc thường quy điều trị loãng xương của Tây y, thời gian nghiên cứu từ 2 đến 6 tháng. Kết quả phân tích gộp cho thấy EXD cải thiện BMD cột sống thắt lưng so với nhóm chứng, không có tác dụng phụ nghiêm trọng ở nhóm can thiệp.

Kết luận

Loãng xương được đặc trưng bởi khối lượng xương thấp, sự hư hỏng của mô xương và phá vỡ cấu trúc xương, làm giảm sức mạnh của xương, tăng nguy cơ gãy xương (3). Loãng xương ảnh hưởng đến 200 triệu người trên toàn thế giới. Tại Mỹ, hơn 1.5 triệu ca gãy xương do loãng xương xảy ra hàng năm, bao gồm 250,000 ca gãy xương hông, 250,000 ca gãy xương cổ tay, và 500,000 ca gãy xương cột sống. Gãy xương hông liên quan tới 12% đến 24% tử vong ở nữ và gần 25% tử vong ở nam trong năm đầu sau gãy xương; hơn nữa, 50% bệnh nhân mất khả năng di chuyển độc lập và cần chăm sóc tại nhà trong thời gian dài (9). Các nghiên cứu dịch tễ học ở một số quốc gia đã báo cáo rằng tần suất và tác động của gãy xương hông, và con số dự kiến tăng gấp đôi trong 25 năm kế tiếp, dự kiến sẽ có hơn sáu triệu trường hợp Loãng xương trên toàn thế giới vào năm 2050(11). Gãy xương do loãng xương trở thành gánh nặng lớn cho bản thân người cao tuổi và của cả nền y tế (3). Chiến lược quản lý loãng xương là nhằm làm giảm gãy xương do loãng xương và duy trì chất lượng cuộc sống (1).

Hiện nay, việc sử dụng thuốc từ thảo dược và châm cứu trong loãng xương trở nên phổ biến và sự quan tâm của bệnh nhân với các hình thức y học này ngày càng tăng, do đó việc nghiên cứu minh chứng hiệu quả điều trị của các phương pháp YHCT ngày càng trở nên cấp bách nhằm giúp các thầy thuốc lâm sàng có bằng chứng để hướng dẫn và điều trị cho bệnh nhân một cách tốt nhất. Nhìn chung, các nghiên cứu hiện tại đa số chỉ có chất lượng trung bình vì các yếu tố gây nhiễu lên kết quả tương đối cao. Vì vậy YHCT còn con đường dài nữa để có thể đi đến các kết luận một cách chắc chắn trong phòng và điều trị loãng xương. Tuy nhiên, một số hình thức YHCT vẫn nên duy trì, vì ít nhất chúng ta vẫn có thể tin cậy các phương pháp này cung cấp cơ hội cải thiện triệu chứng, nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, cũng như tác dụng phụ thấp hơn so với liệu pháp Tây y và trong tương lai có thể được tích hợp vào việc điều trị các bệnh lý cơ xương khớp nói chung và bệnh loãng xương nói riêng.

 

PGS. TS. BS Nguyễn Thị Bay

Nguyên Trưởng bộ môn Bệnh học

Khoa Y học cổ truyền, ĐH Y dược TP. HCM

Theo Tạp chí Sức Khỏe – khoe24h.vn

Tài liệu tham khảo

  1. Camacho, Pauline M, et al. (2016), “American Association of Clinical Endocrinologists and American College of Endocrinology Clinical Practice guidelines for the diagnosis and treatment of postmenopausal osteoporosis-2016”, Endocrine Practice. 22(s4), pp. 1-42.
  2. Chen, W. J., et al. (2019), “Association of use of Chinese herbal medicines and the risk of fracture in patients with osteoporosis: a population-based cohort study”, Osteoporosis International. 30(4), pp. 807-815.
  3. Cosman, Felicia, et al. (2014), “Clinician’s guide to prevention and treatment of osteoporosis”, Osteoporosis international. 25(10), pp. 2359-2381.
  4. Deal, Chad L. and Abelson, Abby G. (2015), “Management of osteoporosis”, in Hochberg, Marc C., et al., Editors, Rheumatology, Elsevier Mosby, Philadelphia, pp. 1663-1671.
  5. Deng, Wei-min, et al. (2012), “Five-year follow-up study of a kidney-tonifying herbal Fufang for prevention of postmenopausal osteoporosis and fragility fractures”, Journal of bone and mineral metabolism. 30(5), pp. 517-524.
  6. Huston, Patricia and McFarlane, Bruce (2016), “Health benefits of tai chi: What is the evidence?”, Can Fam Physician. 62(11), pp. 881-890.
  7. Jin, Yong-Xiang, et al. (2017), “Chinese herbal medicine for osteoporosis: A meta-analysis of randomized controlled trials”, Journal of Clinical Densitometry. 20(4), pp. 516-525.
  8. Khang, Nguyễn and Diệp, Phạm (2008), “Tổng quan lĩnh vực y học cổ truyền bổ trợ thay thế trên thế giới”, Nghiên cứu ứng dụng y học cổ truyền trên thế giới và trong nước, NXB Y Học, pp. 119-147.
  9. Lane, Nancy E. (2017), “Metabolic Bone Disease”, in Firestein, Gary S., et al., Editors, Kelley and Firestein’s Textbook of Rheumatology, Elsevier, pp. 1730-1742.
  10. Li, Jin-Yu, et al. (2017), “Effects of Chinese herbal formula Erxian decoction for treating osteoporosis: a systematic review”, Clinical interventions in aging. 12, p. 45.
  11. Liu, Yunxia, Liu, Jian Ping, and Xia, Yun (2014), “Chinese herbal medicines for treating osteoporosis”, The Cochrane Library.
  12. Pan, Hong, et al. (2018), “The effectiveness of acupuncture for osteoporosis: a systematic review and meta-analysis”, The American journal of Chinese medicine. 46(03), pp. 489-513.
  13. Wang, Huiru, et al. (2015), “Simplified Tai Chi resistance training versus traditional Tai Chi in slowing bone loss in postmenopausal women”, Evidence-Based Complementary and Alternative Medicine. 2015.
  14. Wei, Xu, et al. (2017), “Qianggu capsule for the treatment of primary osteoporosis: evidence from a Chinese patent medicine”, BMC complementary and alternative medicine. 17(1), p. 108.
  15. Huang, Fan, et al. (2019), “The Effectiveness and Safety of Acupoint Catgut Embedding for the Treatment of Postmenopausal Osteoporosis: A Systematic Review and Meta-Analysis”, Evidence-based complementary and alternative medicine : eCAM. 2019, pp. 2673763-2673763.
  16. Lin, Haixiong, et al. (2019), “Acupuncture for Primary Osteoporosis: Evidence, Potential Treatment Prescriptions, and Mechanisms”, Evidence-based complementary and alternative medicine : eCAM. 2019, pp. 2705263-2705263.
  17. Wang, Yu-Chi, et al. (2019), “Decreased fracture incidence with traditional Chinese medicine therapy in patients with osteoporosis: a nationwide population-based cohort study”, BMC complementary and alternative medicine. 19(1), pp. 42-42.
  18. Wattanathorn, Jintanaporn, et al. (2018), “A Double-Blind Placebo-Controlled Randomized Trial Evaluating the Effect of Polyphenol-Rich Herbal Congee on Bone Turnover Markers of the Perimenopausal and Menopausal Women”, Oxidative medicine and cellular longevity. 2018, pp. 2091872-2091872.

 

 

 

 

 

Phản hồi của bạn

Cùng chuyên mục

Chăm sóc sức khỏe bằng YDCT – Xu thế tất yếu

Y Dược Cổ Truyền (YDCT) nói chung và Đông dược nói riêng, được sử dụng trong phòng bệnh và chữa bệnh đã có từ hàng ngàn năm và hiện vẫn không ngừng phát triển. Xu …

Vai trò của thuốc YHCT trong điều trị viêm dạ dày do khuẩn Helicobacter pylori

Viêm dạ dày là bệnh lý tâm thể, do nhiều nguyên nhân và nhiều yếu tố nguy cơ phối hợp tác động, dễ tái phát và tiến triển mạn tính, trong đó nhiễm H. pylori …

Vai trò của thuốc Y học cổ truyền trong điều trị Viêm gan siêu vi mạn tính

Viêm gan là tình trạng có tổn thương tế bào nhu mô gan do nhiều nguyên nhân khác nhau. Khi tế bào gan bị hủy hoại, màng tế bào bị vỡ làm cho hoạt độ …

Coi chừng thuốc gây mệt mỏi, buồn ngủ

Có nhiều thuốc gây mệt mỏi và kèm theo buồn ngủ. Nhưng lưu ý, mệt mỏi cũng có thể do chính cơ thể bị rối loạn như: bị bệnh (huyết áp thấp, thiếu máu, đái …

Đông dược thời @ phải có gì mới?

Vâng, đã đến lúc Đông Dược phải có điểm mới, phải chủ động và linh động biến đổi để thăng hoa trong thiên niên kỷ mới, vì cả thầy thuốc lẫn bệnh nhân không mong …

Hỗ trợ 24/7
Gửi câu hỏi