Hợp tác dùng thuốc cho trẻ – Chuyện không nhỏ!

Thông thường, người bệnh đi khám bệnh sẽ được bác sĩ khám, chẩn đoán xác định bệnh, ghi đơn thuốc và sau đó người bệnh sẽ dùng đúng các loại thuốc đã được chỉ định trong đơn. Tuy nhiên, những điều vừa nêu thường không xảy ra trọn vẹn, đặc biệt ở giai đoạn sau cùng. Người bệnh vì nhiều lí do, có thể bỏ ngang việc dùng thuốc, thuốc không dùng đúng thời gian của liệu trình. Vì vậy, việc hợp tác dùng thuốc là một điều rất quan trọng!

Có những bệnh có thể phải dùng thuốc lâu dài, thậm chí suốt đời (như bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp, động kinh…), nếu người bệnh bỏ ngang, việc dùng thuốc sẽ ảnh hưởng trầm trọng đến bản thân người bệnh. Nhưng cũng có những bệnh nếu bỏ ngang, không dùng thuốc đúng liệu trình, hậu quả xấu không chỉ xảy ra cho người bệnh mà còn gây nguy hại rất lớn cho sức khỏe cộng đồng. Như việc chữa trị lao không đúng cách, không dùng thuốc theo đúng thời gian của phác đồ điều trị điều trị có thể đưa đến hiện tượng “lao đa kháng thuốc” (nhiều thuốc kháng lao không còn hiệu quả) và nay là “lao siêu kháng thuốc” (thuốc kháng lao dự trữ dùng sau cùng vẫn không có tác dụng), rất nguy hiểm!

Vấn đề người bệnh không chịu phối hợp dùng thuốc theo đúng phác đồ điều trị ngày càng trở nên nghiêm trọng, đến độ vào năm 2003, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã tuyên bố tình trạng người bệnh không hợp tác, bỏ ngang việc dùng thuốc đã trở thành mối quan ngại toàn cầu cho sức khỏe cộng đồng. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy tỉ lệ không hợp tác dùng thuốc trị các bệnh mạn tính có dao động từ 20 đến 80% và WHO chấp nhận tỷ lệ trung bình là 50% (tức có khoảng một nửa số người trên toàn thế giới đang điều trị một bệnh kinh niên đã bỏ ngang việc dùng thuốc).

Đó là nói chuyện người lớn. Thế đối với trẻ con thì như thế nào? Trẻ con dùng thuốc thông qua người lớn, tức các bậc cha mẹ. Vì vậy, những điều xảy ra cho người lớn cũng có thể xảy ra cho trẻ nhỏ, như do cha mẹ không hợp tác dùng thuốc theo yêu cầu của thầy thuốc mà trẻ không được dùng thuốc đúng cách hoặc bị bỏ ngang,…

Hiện nay các nhà y dược gọi tên của việc bệnh nhân chấp nhận dùng thuốc theo đúng liệu trình của phác đồ điều trị là “hợp tác dùng thuốc” (pharmacoadherence), thay vì trước đây gọi là “tuân thủ dùng thuốc” hay nói gọn hơn là “tuân trị” (complicance). Nếu dùng câu chữ “hợp tác dùng thuốc” sẽ cho thấy sự bình đẳng giữa bệnh nhân và thầy thuốc, bệnh nhân chịu dùng thuốc là vì lợi ích của cả đôi bên (lợi ích của bệnh nhân là được chữa khỏi bệnh, còn lợi ích của thầy thuốc là thực hiện nghề nghiệp cao quý của mình chữa khỏi bệnh). Còn nói “tuân trị” là đặt vị trí của người bệnh thấp hơn, người bệnh vì sợ thầy thuốc mà chấp nhận vâng lời dùng thuốc theo đúng chỉ định. Một một số nhà y dược học đã định nghĩa “Hợp tác dùng thuốc” là sự cộng tác của người bệnh trong việc thực hiện chế độ điều trị bằng thuốc do thầy thuốc chỉ định mà sự cộng tác này dựa trên mối tin cậy thân thiết của người bệnh”. Có nhiều yếu tố làm cho việc hợp tác dùng thuốc không tốt, trong đó có mối liên hệ giữa bệnh nhân và thầy thuốc, vì vậy, định nghĩa nhấn mạnh sự tin cậy thân thiết của bệnh nhân đối với thầy thuốc đảm nhận việc chữa bệnh là rất quan trọng. Riêng đối với trẻ con, chính sự cộng tác dựa trên mối tin cậy của các bậc cha mẹ đối với thầy thuốc mà việc điều trị bằng thuốc ở trẻ tốt hơn hoặc xấu hơn.

Thực trạng của việc hợp tác dùng thuốc hiện nay không sáng sủa có lắm vấn đề, cho nên WHO kêu gọi các nhà chuyên môn y dược đề xuất các chiến lược cần thiết cải thiện việc hợp tác dùng thuốc trên phạm vi toàn cầu. Nhiều công trình nghiên cứu đã được các nhà y dược thực hiện ở nhiều nước nhằm đánh giá thực trạng việc hợp tác dùng thuốc và đề ra các biện pháp can thiệp hữu hiệu. Các nhà khoa học nhất trí cho rằng để người bệnh hợp tác dùng thuốc tốt, họ cần được giúp đỡ 3 việc sau:

  1. Tiếp cận dễ dàng và thuận lợi với thuốc men: Người bệnh rất dễ bỏ cuộc không tiếp tục dùng thuốc, nếu thuốc mua với chế độ dùng thuốc quá phức tạp (như dùng quá nhiều lần trong ngày, có thuốc phải dùng đến 5 lần/ngày) hoặc không tiện dụng (như người lớn cứ phải dùng dạng tiêm chích thay vì uống). Riêng trẻ con phải dùng dạng thuốc dành cho người lớn là viên nén thay vì dùng dạng thuốc lỏng dành cho trẻ là si rô, dung dịch, hỗn dịch… là việc cần phải cải thiện.
  2. Tăng cường sự hiểu biết của người bệnh về tình trạng bệnh và chế độ điều trị bằng thuốc: Người bệnh cần biết rõ những điều cơ bản về bệnh của họ và về thuốc, để hiểu vì sao phải dùng thuốc, thuốc sẽ cho tác dụng như thế nào đối với bệnh, phải uống thuốc bao nhiêu lần trong ngày và cần bao nhiêu loại thuốc đễ chữa khỏi bệnh, khi dùng thuốc có thể bị các tác dụng phụ nào hay không. Vì vậy, thầy thuốc nên dành thời gian tư vấn cho người bệnh (có khi người bệnh cảm thấy bệnh đỡ đi nhiều chỉ nhờ lời nói ân cần của thầy thuốc). Đối với trẻ con, sự hiểu biết của các bậc cha mẹ về tình trạng của con mình và về chế độ dùng thuốc cho trẻ là quan trọng biết dường nào.
  3. Hình thành và củng cố động cơ hợp tác dùng thuốc ở người bệnh: Tức là phải tạo được niềm tin ở người bệnh. Nếu là trẻ con thì chủ yếu là niềm tin của các bậc cha mẹ. Tức là muốn chữa bệnh dứt khoát phải hợp tác với thầy thuốc dùng đúng và đủ thuốc. Ở đây rất cần đến mối quan hệ tốt đẹp giữa người bệnh hay cha mẹ bệnh nhi và các thành viên trong hệ thống chăm sóc sức khỏe, đó là bác sĩ điều trị, dược sĩ cấp và tư vấn dùng thuốc, điều dưỡng chăm sóc bệnh hằng ngày. Phải tạo niềm tin như thế nào mà người bệnh hay cha mẹ bệnh nhi thấy việc nhớ dùng thuốc là mệnh lệnh từ trái tim của mình, gắn việc dùng thuốc vào sinh hoạt hằng ngày và duy trì việc dùng thuốc dù sinh hoạt hằng ngày có thay đổi. Như trẻ bị hen suyễn được cha mẹ cho dùng dạng thuốc bơm hít đúng lúc, đúng cách trong cơn lên hen nguy kịch.

Các nhà khoa học cũng nhất trí để thúc đẩy việc hợp tác dùng thuốc tốt, cần thực hiện phối hợp các biện pháp can thiệp sau:

  • Biện pháp kỹ thuật: Bác sĩ điều trị khi chỉ định thuốc hoặc dược sĩ khi cấp thuốc nên lựa chọn thuốc mà chế độ dùng thuốc thuận tiện hơn, như dùng dạng thuốc lỏng (sirô, hỗn dịch…) cho trẻ em.
  • Biện pháp truyền thông – giáo dục: Trước hết, chính các bác sĩ, dược sĩ là người thích hợp nhất giúp người bệnh hay cha mẹ bệnh nhi nâng cao hiểu biết về bệnh tật và thuốc men chữa trị có liên quan. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy việc hợp tác dùng thuốc của người bệnh hay cha mẹ bệnh nhi tốt hơn rất nhiều khi nhà điều trị không kiệm lời, chịu khó nói năng với lời lẽ chân tình, giúp người bệnh hay cha mẹ bệnh nhi hiểu rõ về bệnh tình để từ đó có sự tin cậy về chế độ dùng thuốc. Người ta cũng ghi nhận vai trò rất lớn của các phương tiện truyền thông đại chúng, trong đó các báo chí, về việc nâng cao kiến thức để người bệnh hay cha mẹ bệnh nhi hợp tác tốt việc dùng thuốc.

PGS. TS. DS Nguyễn Hữu Đức

Theo Tạp chí Sức Khỏe – khoe24h.vn

Phản hồi của bạn

Cùng chuyên mục

Sữa mẹ và các vấn đề cần biết!

“Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho sự phát triển toàn diện của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ”, câu nói quá phổ biến mà các bà mẹ, các ông bố thuộc nằm làu …

Cách chăm sóc trẻ sơ sinh dành cho những người lần đầu làm cha mẹ

Lần đầu làm cha mẹ, bên cạnh niềm hạnh phúc, sẽ là những lo lắng. Từ những việc như quấn bé như thế nào, cách tắm ra sao, cách cho trẻ ợ, cũng như các …

Nhau cài răng lược và vết mổ lấy thai

Nhau cài răng lược là một tai biến sản khoa. Nếu không được phát hiện sớm, tình trạng này có thể tổn hại cho thai nhi, cho thai phụ: gây mất máu, có thể phải …

Hành trang du lịch cùng mẹ bầu

Những ngày nghỉ Tết là cơ hội cho các gia đình cùng nhau đi du lịch. Giai đoạn bầu bí không phải là thời điểm lý tưởng cho người phụ nữ đi du lịch, tuy …

Thai chậm tăng trưởng trong tử cung

Không riêng gì Việt Nam, các quốc gia trên thế giới đều muốn giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng trong bào thai nói riêng và tỷ lệ tử vong sơ sinh nói chung. Chính …

Hỗ trợ 24/7
Gửi câu hỏi