Gan nhiễm mỡ – Hiểm họa thầm lặng

Gan nhiễm mỡ nói chung – Gan nhiễm mỡ không do rượu- nói riêng, luôn là vấn đề nóng trên nghị trường y khoa thế giới, nhất là ở các nước phương Tây. Các dữ liệu mới đã chứng minh mối quan hệ giữa các yếu tố nguy cơ của rối loạn chuyển hóa, bệnh mạch vành và các bệnh tim mạch khác với bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu. Đồng thời, một số nghiên cứu cho thấy, những trường hợp tử vong ở người bị gan nhiễm mỡ có liên quan đến bệnh tim mạch và ung thư.

Hiện nay gan nhiễm mỡ đã trở thành mối quan tâm, với tỷ lệ mắc ước tính là 30% dân số ở Hoa Kỳ, ở Ý là 46,4% dân số và hiện đứng thứ hai sau virus viêm gan C, là nguyên nhân phổ biến nhất của bệnh gan trong số những người đang chờ ghép gan. Riêng ở Việt Nam, tuy chưa có thống kê chính xác về tỷ lệ mắc phải trong cộng đồng, nhưng với sự phát triển kinh tế và thay đổi thói quen giao tiếp, tỷ lệ này là không nhỏ qua phát hiện khám sức khỏe định kỳ cũng như diễn tiến bệnh gan nặng.

Một điều đáng lưu ý là gan nhiễm mỡ không chỉ giới hạn ở người lớn. Nghiên cứu của NHANES ghi nhận, 48% trẻ em và lứa tuổi thanh thiếu niên có béo phì sẽ bị gan nhiễm mỡ. Sự gia tăng tần suất của gan nhiễm mỡ song hành với tăng tỉ lệ béo phì, đái tháo đường type 2 đề kháng insulin và tăng huyết áp. Béo phì còn là yếu tố nguy cơ của bệnh gan do rượu và viêm gan siêu vi C. Điều đáng quan tâm hơn là sự tăng số lượng bệnh nhân ung thư tế bào gan có liên quan với béo phì đơn thuần không có xơ gan.

Tăng lipid máu (gồm có tăng triglyceride máu, tăng cholesterol máu hoặc cả hai) có liên quan đến sự hiện diện và mức độ trầm trọng của gan nhiễm mỡ. Qua các báo cáo khảo sát ghi nhận ở 20% đến 81% những bệnh nhân xơ gan không do rượu có tăng Triglyceride. Gan nhiễm mỡ phát triển ở 90% – 100% người nghiện rượu nặng.

Gan nhiễm mỡ

Là tình trạng tích tụ mỡ trong gan với nhiều mức độ khác nhau, chủ yếu là sự ứ đọng Triglyceride và một số chất mỡ khác, có thể thay đổi diễn tiến từ gan nhiễm mỡ đơn thuần cho đến tế bào gan bị tổn thương và viêm gan. Tiến trình này cuối cùng sẽ dẫn đến xơ gan, suy tế bào gan và ung thư gan.

Gan nhiễm mỡ được xác định khi sự tích luỹ của chất béo trong gan vượt quá 5% trọng lượng của gan hoặc khi quan sát dưới kính hiển vi thấy số lượng tế bào gan chứa các hạt mỡ nhiều hơn 5% khối lượng này. Đôi khi lượng chất béo này vượt quá 50% trong lựơng của gan. Khi phẫu thuật sẽ nhìn thấy gan có kích thước to hơn bình thường, có màu vàng nhạt óng ánh mỡ. Còn dưới kính hiển vi điện tử sẽ thấy các tế bào gan phồng to lên với các túi chứa đầy mỡ.

Bệnh sinh của Gan nhiễm mỡ

Gan là một trong những cơ quan quan trọng của cơ thể và rất dễ bị tổn thương, là nhà máy chuyển hoá các chất đường- đạm- chất béo được cung cấp cho cơ thể từ nguồn thức ăn và chuyển hoá những chất này thành các chất dinh dưỡng cho cơ thể. Gan đóng một vai trò trung tâm trong sự tích trữ và chuyển hoá của các chất béo. Gan nhiễm mỡ xảy ra khi quá trình chuyển hoá acid béo tại gan bị rối loạn, dẫn đến giảm sự thải mỡ ở gan và hậu quả là tăng ứ đọng các hạt mỡ trong gan. Đó là: 

  • Giảm chức năng oxy hóa acid béo của ty lạp thể trong tế bào gan.
  • Tăng tổng hợp axit béo nội sinh hoặc tăng cường cung cấp axit béo cho gan.
  • Sự kết hợp thiếu hoặc xuất khẩu chất béo trung tính dưới dạng lipoprotein mật độ rất thấp (VLDL).

Các cấp độ của Gan nhiễm mỡ

  • Gan nhiễm mỡ độ 1 (nhẹ): có sự hiện diện của chất béo nhiều hơn 5% – <30%.
  • Gan nhiễm mỡ độ 2 (vừa): có sự hiện diện của chất béo nhiều hơn 30%.
  • Gan nhiễm mỡ độ 3 (nặng): có sự hiện diện của chất béo nhiều hơn 60%.

Gan nhiễm mỡ có dẫn đến xơ gan và ung thư gan?

Gan nhiễm mỡ đơn thuần không có tổn thương tế bào gan (không tăng các chỉ số ALT – AST – GGT) có thể lành tính và hồi phục với việc điều chỉnh lối sống và chế độ ăn. Nếu sự thâm nhiễm mỡ ở gan kéo dài sẽ làm giảm oxy hoá acid béo ở gan và tế bào gan bị hư hại (AST, ALT tăng). Một khi tình trạng hư hại tế bào gan ngày càng nhiều dẫn đến suy giảm chức năng của gan, đồng thời gây ra chèn ép các ống mật nhỏ gây tắc mật (GGT tăng), dần dần tạo ra những dãy xơ trong gan, cuối cùng là xơ gan (20%). Qua nhiều nghiên cứu cho thấy có 10% trong số này dẫn đến ung thư gan.

Nguyên nhân dẫn đến Gan nhiễm mỡ

Đây là một hậu quả của rất nhiều bệnh lý. Hai tình trạng đáng lưu ý quan trọng nhất là:

  • Gan nhiễm mỡ do rượu

Gan nhiễm mỡ do rượu là hậu quả sớm của việc tiêu thụ quá nhiều rượu. Gan nhiễm mỡ phát triển ở mỗi cá nhân tiêu thụ hơn 60g rượu mỗi ngày. Ngoài ra, việc uống ethanol kinh niên sẽ ức chế quá trình oxy hóa axit béo trong gan và phóng thích VLDL vào máu. Vùng trung tâm tiểu thùy gan bị ứ đọng mỡ do thiếu oxy tương đối và làm thay đổi chuyển hóa lipid, cùng với phản ứng oxy hóa khử do quá trình oxy hóa ưu tiên của rượu ở vùng trung tâm. Hoại tử tế bào gan sẽ xảy ra ở gan nhiễm mỡ do rượu.

Diễn tiến được quan sát ở những người mắc bệnh gan do rượu (ALD) như sau:

– Gan nhiễm mỡ do rượu (gan nhiễm mỡ đơn thuần).

– Viêm gan do rượu.

– Xơ gan rượu.

Việc ngừng tiêu thụ rượu bia sớm có thể hồi phục tình trạng Gan nhiễm mỡ và viêm gan do rượu.

  • Gan nhiễm mỡ không do rượu (NASH-NAFLD): Thường gặp do các bệnh về chuyển hóa như đái tháo đường, rối loạn lipid máu nhất là tăng Triglyceride; các rối loạn về dinh dưỡng như suy dinh dưỡng, chế độ ăn giàu tinh bột và còn do một số thuốc như amiodarone, tamoxifen, methotrexate… cũng có thể gây ra Gan nhiễm mỡ. Ngoài ra còn do một số trường hợp khác: viêm gan C mãn tính, bệnh Wilson, gan nhiễm mỡ cấp trong thai kỳ…

Triệu chứng của gan nhiễm mỡ

Trong giai đoạn sớm, người bị gan nhiễm mỡ hầu như không có triệu chứng. Một số ít người cảm thấy hơi mệt mỏi và suy nhược, hoặc có cảm giác hơi tức ở vùng dưới sườn bên phải. Do vậy, bệnh thường được phát hiện một cách tình cờ sau một xét nghiệm máu thường quy (thấy men gan tăng) hoặc sau khi được siêu âm. Nếu gan nhiễm mỡ không kèm viêm gan thường có một giai đoạn lành tính 10-15 năm. Nhưng nếu gan nhiễm mỡ kèm viêm gan, có đến 25% sẽ tiến triển đến xơ gan, khi đó sẽ có biểu hiện vàng da, cổ trướng và có tỉ lệ 10% trong số này có ung thư gan.

Làm cách nào để phát hiện gan nhiễm mỡ và các yếu tố liên quan?

Để phát hiện sớm gan nhiễm mỡ nên khám sức khỏe định kỳ và siêu âm bụng 6 tháng/lần để được phát hiện và điều trị sớm.

Ở những người có gan nhiễm mỡ hay bệnh gan mạn tính, cần được tầm soát các bệnh đi kèm như rối loạn lipid máu, béo phì, kháng insulin hoặc tiểu đường, suy giáp, hội chứng buồng trứng đa nang và ngưng thở khi ngủ.

Bệnh nhân bị xơ gan nhiễm mỡ không do rượu (NASH) nên được kiểm tra giãn tĩnh mạch thực quản và nên được xem xét để sàng lọc ung thư biểu mô tế bào gan.

Các phương tiện chẩn đoán sớm Gan nhiễm mỡ

Siêu âm bụng hoặc chụp cắt lớp (CT scan) đều có thể chẩn đoán sớm gan nhiễm mỡ. Sinh thiết gan là thủ thuật chẩn đoán chính xác nhất, tuy nhiên hiện nay, việc áp dụng sinh thiết để chẩn đoán gan nhiễm mỡ không còn cần thiết, khi mà các phương tiện chẩn đoán hình ảnh ngày càng tốt hơn (siêu âm đo độ đàn hồi gan, CT scan…). Mặt khác, việc xét nghiệm máu cholesterol, triglyceride máu, các men gan, các xét nghiệm máu đánh giá chức năng gan qua kiểm tra sức khỏe định kỳ đã trở nên dễ dàng thực hiện tại các cơ sở y tế.

Điều trị Gan nhiễm mỡ

Chủ yếu là điều trị các nguyên nhân cơ bản gây bệnh: ngưng uống rượu, ngưng ngay những thuốc có khả năng gây độc cho gan, điều trị các bệnh rối loạn chuyển hóa (đái tháo đường, rối loạn lipid máu), kiểm soát tình trạng viêm gan siêu vi C.

  • Thực hiện chế độ ăn hợp lý và chế độ tập luyện vận động để giảm cân có thể cải thiện tình trạng gan nhiễm mỡ. Chế độ ăn hợp lý là đầy đủ chất dinh dưỡng cần thiết và nên hạn chế thực phẩm giàu cholesterol như các loại đồ lòng, phủ tạng, da… động vật, hải sản, sử dụng các thức ăn gần với thiên nhiên ít chế biến.
  • Vận động thể lực đều đặn, sống năng động nhằm duy trì cân nặng lý tưởng (nên biết chỉ số BMI của bản thân và BMI lý tưởng phù hợp để tự theo dõi tình trạng dư cân của bản thân). Giảm cân 3% -5% trọng lượng cơ thể giúp làm giảm tình trạng gan nhiễm mỡ, đôi khi có thể cần giảm tới 10% trọng lượng để cải thiện tình trạng viêm hoại tử.

Một nghiên cứu của Úc đánh giá chỉ 4 tuần tập thể dục đạp xe cho thấy mặc dù không có thay đổi về trọng lượng cơ thể, nồng độ cholesterol trong gan đã được cải thiện. Ngoài ra, đi bộ trong 20 phút 5 – 7 ngày một tuần có thể ổn định bệnh gan.

Bệnh nhân sử dụng rượu nặng (nam giới:> 3 ly mỗi ngày, phụ nữ:> 2 ly mỗi ngày) trong thời gian dài hơn 5 năm có nguy cơ mắc bệnh gan do rượu con đường dễ dàng đến xơ gan và ung thư gan.

Việc kiêng rượu sớm và liên tục sẽ tối ưu hóa việc cải thiện mô học gan, giảm sự phát triển của bệnh xơ gan.

Vitamin E 800 IU/ngày có thể giúp cải thiện mô học gan ở người bị Gan nhiễm mỡ không đi kèm với đái tháo đường type 2.

Những người béo phì quá mức nếu các biện pháp giảm cân không cải thiện cần được xem xét phẫu thuật, có thể dẫn đến sự cải thiện đáng kể về cả mô học và men gan.

Gan nhiễm mỡ có thể xảy đến cho bất kỳ những ai có lối sống thiếu vận động và ăn uống bất hợp lý, quá thừa thải năng lượng, lạm dụng rượu bia… Vì vậy, xây dựng lối sống lành mạnh, năng vận động, ăn uống hợp lý, ý thức kiểm tra sức khỏe định kỳ, chính là động thái quan trọng để bảo vệ sức khỏe cho chính mình.

BS CKII Trần Ánh Tuyết

Giám đốc Y khoa PK YERSIN

Theo Tạp chí Sức Khỏe – khoe24h.vn

Phản hồi của bạn

Cùng chuyên mục

Triệu chứng và cách điều trị bệnh gan nhiễm mỡ

Triệu chứng và cách điều trị bệnh gan nhiễm mỡ (Sức Khỏe- khoe24h) Bệnh gan nhiễm mỡ là một loại bệnh có thể đe doạ đến tính mạng con người với những biến chứng khó lường. …

Hỗ trợ 24/7
Gửi câu hỏi