Các phương pháp điều trị ung thư hiện nay

Hiện nay, có nhiều phương pháp điều trị bệnh ung thư. Các phương pháp điều trị liên tục được phát triển mới, thay thế hoặc bổ sung cho các điều trị cổ điển. Rất nhiều các tiến bộ của y khoa cũng như các tiến bộ của các chuyên ngành khác đã được ứng dụng trong nghiên cứu, chẩn đoán và điều trị bệnh ung thư.

Chỉ có một số loại ung thư, nhất là khi bệnh còn ở giai đoạn sớm, là được điều trị bằng một phương pháp đơn độc. Hầu hết các trường hợp còn lại, chúng ta phải phối hợp nhiều phương pháp điều trị, dùng mặt mạnh của phương pháp này bổ túc cho mặt yếu của phương pháp kia, trở nên là yêu cầu bức thiết.

Các phương pháp điều trị ung thư cơ bản bao gồm phẫu trị (surgery), xạ trị (radiation therapy), hóa trị (chemotherapy), điều trị nhắm trúng đích (targeted therapy), điều trị miễn dịch (immunotherapy) và điều trị nội tiết (hormone therapy). Ngoài ra, còn có một số thủ thuật và kỹ thuật khác bao gồm ghép tế bào gốc (stem cell transplant), điều trị bằng nhiệt độ cao (hyperthermia), điều trị quang động học (photodynamic therapy) và laser.

Ca nội soi cắt tuyến giáp qua ngã miệng

Phẫu trị

Là phương pháp điều trị ung thư cổ xưa nhất. Trong một thời gian dài phẫu trị đã là liệu pháp hữu hiệu duy nhất và đến nay vẫn còn là vũ khí chọn lựa cho khoảng 70% các trường hợp ung thư. Ưu điểm lớn nhất của phẫu thuật là có thể lấy đi khối bướu mà không gặp phải một sự đề kháng sinh học nào. Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất là sự tàn phá, làm rối loạn chức năng sống của cơ thể. Phẫu thuật được sử dụng để phòng ngừa, chẩn đoán, xếp giai đoạn, điều trị và làm giảm nhẹ triệu chứng cho người bệnh.

Phẫu thuật phòng ngừa được áp dụng cho một số bệnh ung thư, cho các đối tượng có nguy cơ mắc bệnh quá cao; ví dụ như đoạn nhũ phòng ngừa cho các phụ nữ bị di truyền đột biến gen ung thư vú (breast cancer gene – BRCA gene). Phẫu thuật chẩn đoán còn gọi là sinh thiết (biopsy) nhằm lấy mẫu mô bướu để xét nghiệm giải phẫu bệnh. Phẫu thuật xếp hạng nhằm đánh giá chính xác giai đoạn bệnh.

Phẫu thuật điều trị bệnh (curative surgery) nhằm lấy bướu cùng với rìa mô lành xung quanh để đảm bảo tế bào bướu không còn trong cơ thể. Hiện nay, ngoài sự phát triển các phẫu thuật nội soi xâm lấn tối thiểu được áp dụng trong điều trị cho nhiều loại ung thư, thì phẫu thuật robot cũng được áp dụng ngày càng rộng rãi. Phẫu thuật robot là một loại phẫu thuật nội soi được hỗ trợ bởi sự chính xác của các cánh tay robot. Phẫu thuật này giúp làm giảm lượng máu mất, giảm đau, rút ngắn thời gian nằm viện và mau lành thương hơn.

Ca vi phẫu tái tạo lưỡi

Sau các phẫu thuật điều trị mà khối bướu quá lớn, thì phẫu thuật tái tạo sẽ được tiến hành tiếp theo sau, nhằm phục hồi chức năng cho cơ thể người bệnh. Phẫu thuật tái tạo thường được áp dụng để tái tạo tuyến vú, cơ quan sinh dục, hốc miệng và khẩu hầu. Các kỹ thuật mới như tái tạo vi phẫu, tái tạo xương bằng kỹ thuật vi tính ba chiều giúp kết quả tái tạo tốt hơn trước rất nhiều.

 Cuối cùng, đối với các giai đoạn bệnh ung thư không thể chữa khỏi, thì phẫu thuật giảm nhẹ (palliative surgery) được tiến hành để cải thiện chất lượng sống, ví dụ như phẫu thuật nối tắc ruột trong trường hợp không thể cắt bỏ được khối ung thư đại tràng.

 

Xạ trị

Là phương pháp được ứng dụng vào đầu thế kỷ 20, đến nay được ứng dụng chủ yếu để điều trị bệnh ung thư. Xạ trị sử dụng các hạt hoặc các sóng năng lượng cao, như tia X, tia gamma, tia electron hay tia proton để tiêu diệt hoặc làm thương tổn tế bào ung thư. Tia phóng xạ gây nên những tổn hại nhỏ cho DNA trong tế bào bướu. Các tổn hại này sẽ làm tế bào ung thư ngừng phát triển và phân chia, gây chết tế bào. Các tế bào bình thường cũng bị ảnh hưởng bởi tia xạ, nhưng sẽ hồi phục gần như hoàn toàn và trở lại chức năng ban đầu. Cũng như phẫu thuật, xạ trị chỉ có tác dụng tại chỗ tại vùng, tức chỉ có tác dụng lên một phân vùng của cơ thể.

Ứng dụng thế hệ máy xạ trị hiện đại trong điều trị

Hơn phân nửa số bệnh nhân ung thư được điều trị bằng tia phóng xạ. Một số loại ung thư có thể điều trị bằng xạ trị đơn thuần. Trên thực tế, đa số các trường hợp xạ trị phải kết hợp với các phương pháp điều trị khác. Xạ trị được sử dụng để điều trị, hỗ trợ với các phương thức khác, phòng ngừa, hoặc giảm nhẹ triệu chứng.

Xạ trị điều trị được áp dụng cho các loại ung thư nhạy xạ, ví dụ như ung thư vòm hầu. Đối với các loại ung thư khác, xạ trị có thể tiến hành trước phẫu thuật để bướu thu nhỏ lại, hoặc bổ túc sau phẫu thuật để tiêu diệt các tế bào còn sót lại nơi nền bướu. Trong một số trường hợp bệnh giai đoạn sớm, xạ trị có thể sử dụng để thay thế phẫu thuật vì giúp bảo tồn cơ quan tốt hơn. Hiện nay, nhiều trung tâm sử dụng phác đồ xạ kết hợp với hóa trị, một số hóa chất giúp mô bướu nhạy xạ hơn, giúp tỉ lệ đáp ứng cao hơn và cải thiện kết quả sống còn cho người bệnh.

Xạ trị phòng ngừa được áp dụng cho một số trường hợp đặc biệt, dùng để ngăn ngừa tế bào ung thư phát triển tại một vị trí nguy cơ di căn cao, ví dụ như xạ trị phòng ngừa não trong ung thư phổi. Xạ trị còn dùng để giảm nhẹ các triệu chứng đau, khó nuốt, khó thở, tắc ruột được gây ra khi bệnh ung thư đã lan tràn.

Các phương pháp xạ trị cơ bản bao gồm xạ trị ngoài (external beam radiation), xạ trị trong (internal radiation) và xạ trị toàn thân (systemic radiation).

Ca SBRT đầu tiên

  • Xạ trị ngoài là phương pháp thường dùng nhất, sử dụng các máy tạo ra các tia năng lượng cao từ ngoài cơ thể và hướng chùm tia này vào bướu. Các máy thường được dùng nhất hiện nay là máy gia tốc thẳng tạo ra chùm tia photon. Máy thế hệ càng mới càng giúp chùm tia đi chính xác hơn tập trung vào bướu và giảm tổn hại cho mô lân cận. Tại bệnh viện Ung Bướu TP. Hồ Chí Minh, các kỹ thuật tiên tiến như xạ trị sát hợp mô đích ba chiều (three-dimensional conformal radiation therapy), xạ trị điều biến cường độ (IMRT – intensity modulated radiation therapy) đã được áp dụng từ lâu. Gần đây, kỹ thuật xạ trị với hướng dẫn của hình ảnh (IGRT – image guided radiation therapy), xạ trị định vị thân (SBRT – stereotactic body radiation therapy) cũng đã được ứng dụng thành công, giúp tăng độ chính xác và giảm thời gian điều trị. Hiện nay, ngoài chùm tia photon và electron, thì tại các nước phát triển, đặc biệt là Nhật Bản, xạ trị bằng chùm tia proton đang được đưa vào phác đồ điều trị ngày càng rộng rãi. Đây là phương pháp sử dụng các hạt nặng hơn, tạo ra từ máy cyclotron hay synchrotron, giảm tổn tại cho mô lành và tiêu diệt mô bướu nhiều hơn. Hy vọng, bệnh nhân Việt Nam có thể được tiếp cận với phương pháp này trong một tương lai gần.
  • Xạ trị trong, hay còn gọi là xạ trị tiếp cận (brachytherapy) là đưa nguồn phóng xạ trực tiếp vào cạnh hoặc ngay tại bướu trong cơ thể. Phóng xạ được đưa vào một vật chứa sau đó được đưa vào người bệnh, nhằm nâng liều phóng xạ nhưng chỉ ảnh hưởng đến một phần nhỏ cơ thể. Nguồn phóng xạ có thể đưa vào trong hốc tự nhiên (như đưa vào trực tràng hoặc tử cung) hoặc đưa vào trong mô (như đưa vào mô lưỡi).
  • Xạ trị toàn thân là phương pháp đưa chất phóng xạ vào cơ thể bằng đường uống hoặc đường tĩnh mạch. Một số hoạt chất phóng xạ có thể được sử dụng như iodine, strontium, samarium và radium. Các hoạt chất này sau khi đưa vào cơ thể sẽ đến gắn với tế bào bướu, sinh ra tia xạ để tiêu diệt các tế bào này. Phương pháp này được áp dụng điều trị ung thư tuyến giáp, xương và tiền liệt tuyến.

Hóa trị

Là phương pháp bắt đầu được áp dụng để điều trị bệnh ung thư từ những năm 40 – 50 của thế kỷ 20. Hóa trị ung thư thường được hiểu như là phương pháp điều trị ung thư bằng các thuốc hóa học có tính gây độc tế bào (cytotoxic drugs). Nếu như phẫu thuật và xạ trị được sử dụng để kiểm soát ung thư thuộc một vùng nào đó của cơ thể thì hóa trị có tác dụng tên toàn thân. Điều này có nghĩa là hóa chất có thể tiêu diệt các tế bào ung thư đã cho di căn xa đến các cơ quan khác.

Ba mục đích chính của hóa trị là điều trị, kiểm soát và giảm nhẹ triệu chứng của bệnh. Trong một số trường hợp, hóa trị có thể dùng để điều trị khỏi bệnh, ví dụ như bệnh nhân bệnh lymphôm giai đoạn sớm. Tuy nhiên, nếu không thể chữa khỏi, thì hóa trị có thể được dùng để kiểm soát bệnh, làm cho bướu ngưng phát triển và lan tràn. Kiểm soát tốt sẽ giúp người bệnh cảm thấy khỏe và sống lâu hơn. Lúc này ung thư trở thành một bệnh mạn tính. Cuối cùng, khi bệnh đã quá tầm kiểm soát, hóa trị tạm bợ sẽ giúp bệnh nhân giảm đau, bớt khó chịu do các triệu chứng chèn ép.

Bệnh ung thư có thể được điều trị bằng hóa trị đơn chất, tuy nhiên, hiện nay đa số các phác đồ là hóa trị kết hợp (combination chemotherapy) nhiều tác nhân. Mỗi loại thuốc hoạt động theo cơ chế khác nhau, khi sử dụng cùng lúc sẽ tiêu diệt được nhiều tế bào ung thư hơn, làm giảm nguy cơ kháng thuốc. Tuy nhiên, phác đồ kết hợp sẽ có nhiều biến chứng hơn.

Hóa trị có thể được sử dụng để thu nhỏ bướu trước khi phẫu thuật hay xạ trị, trong trường hợp này gọi là hóa trị tân hỗ trợ (neoadjuvant therapy). Nếu tiến hành điều trị sau phẫu thuật hoặc xạ trị để tiêu diệt các tế bào còn sót lại thì được gọi là hóa trị hỗ trợ.

 

Điều trị nhắm trúng đích

Là một dạng hóa trị đặc biệt, nhắm vào sự khác biệt giữa tế bào ung thư và tế bào bình thường. Trong một số ít trường hợp, chúng ta có thể sử dụng phương pháp này đơn độc, nhưng với đa số còn lại, chúng ta thường kết hợp với các mô thức điều trị khác. Sự khác biệt của tế bào ung thư (hoặc các tế bào ở gần đó) là cho các tế bào này tăng sinh và phát triển nhanh chóng. Các thuốc được dùng để nhắm vào sự khác biệt này để ngăn cản sự phát triển của bệnh. Tác nhân nhắm trúng đích thường chỉ tấn công vào tế bào ung thư mà ít làm ảnh hưởng đến tế bào bình thường. Thuốc tấn công vào các vùng đặc hiệu của tế bào ung thư, các vùng làm cho tế bào tăng sinh nhanh và bất thường.

Các thuốc nhắm trúng đích được sử dụng để khóa hoặc tắt các tín hiệu hóa học làm tế bào ung thư tăng sinh, thay đổi các protein trong tế bào ung thư để gây chết tế bào, ngăn cản sự tân sinh mạch máu nuôi bướu, khởi động hệ thống miễn dịch hoặc đưa độc chất đến tiêu diệt tế bào bướu. Có rất nhiều đích khác nhau trong tế bào ung thư, do đó, rất nhiều loại thuốc liên tục được nghiên cứu và ứng dụng. Các thuốc của liệu pháp này thường rất đắt.

 

Điều trị miễn dịch

Là điều trị sử dụng một phần của hệ thống miễn dịch để chống lại bệnh ung thư. Điều trị này dựa trên hai cơ chế, một là kích thích hệ miễn dịch của bản thân hoạt động mạnh hơn hoặc thông minh hơn để tấn công tế bào bướu, hai là cung cấp thêm cho hệ miễn dịch các protein miễn dịch nhân tạo. Một số loại điều trị miễn dịch gọi là điều trị sinh học (biologic therapy).

Các loại điều trị miễn dịch chính bao gồm kháng thể đơn dòng (monoclonal antibodies), ức chế điểm kiểm soát miễn dịch (immune checkpoint inhibitors), vaccine ung thư (cancer vaccines) và một số nhóm khác điều trị miễn dịch không đặc hiệu. Kháng thể đơn dòng là các protein hệ thống miễn dịch nhân tạo được thiết kế để tấn công vào các phần rất đặc hiệu của tế bào ung thư. Thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch nhằm lấy đi “phanh” của hệ thống miễn dịch, giúp thuốc nhận ra và tấn công tế bào bướu. Vaccine được đưa vào cơ thể để khởi động đáp ứng miễn dịch chống lại bệnh ung thư. Điều trị miễn dịch không đặc hiệu nhằm thúc đẩy hệ thống miễn dịch theo cách thông thường, nhưng vẫn ít nhiều có hiệu quả tấn công tế bào tăng sinh của bướu.

 

Điều trị nội tiết

Thường được sử dụng trong điều trị ung thư vú, tiền liệt tuyến và tuyến giáp. Đây là các loại ung thư phát triển dưới sự kích thích của các hormone trong cơ thể. Lấy đi nguồn cung cấp hormone hoặc ức chế tác động của các hormone này sẽ làm tế bào ung thư ngưng phát triển. Ví dụ như chúng ta có thể cắt hai buồng trứng hoặc sử dụng các thuốc kháng thụ thể để loại bỏ ảnh hưởng của estrogen và progesterone lên sự phát sự phát triển của tế bào ung thư vú.

Ghép tế bào gốc

Ghép tế bào gốc có thể sử dụng máu ngoại biên, tủy xương, hoặc máu cuống rốn. Phương pháp này thường được sử dụng trong điều trị các bệnh lý ác tính ảnh hưởng đến hệ tạo huyết và hệ miễn dịch như bệnh bạch cầu, bệnh lymphôm và bệnh đau tủy. Ghép tế bào gốc thường được chỉ định đề thay thế cho trường hợp tủy xương đã bị phá hủy hoàn toàn sau hóa trị liều cao hoặc xạ trị. Ngoài ra, trong một số trường hợp dùng tế bào gốc của người khác để ghép cho bệnh nhân nhằm tăng cường khả năng miễn dịch chống lại tế bào ung thư, gọi là ghép chống lại bạch cầu (graft-versus-leukemia). Có hai phương pháp chính là ghép tự thân (autologous) và ghép dị thân (allogeneic).

Điều trị bằng nhiệt độ cao

Điều trị bằng nhiệt độ cao nhằm tạo nên những thay đổi bên trong tế bào. Những thay đổi này nhằm tăng hiệu quả của hóa trị và xạ trị, hoặc nhằm tiêu diệt tế bào bướu. Phương pháp này có thể dùng tại chỗ, tại vùng hoặc toàn thân. Khi dùng cho điều trị tại chỗ, chúng ta có thể sử dụng sóng điện cao tần (RFA – radiofrequency ablation) hoặc vi sóng (microwave) để điều trị ung thư gan, phổi, thận và tuyến giáp. Khi sử dụng tại vùng, chúng ta có thể tăng nhiệt độ cho một cơ quan, một chi, hoặc một khoang trong cơ thể để tăng hiệu quả của hóa và xạ trị. Kỹ thuật làm tăng nhiệt độ toàn thân được sử dụng để kích thích hệ miễn dịch và thực hiện cùng lúc nhằm tăng hiệu quả của hóa trị.

Điều trị quang động học

Sử dụng ánh sáng chiếu lên một vùng của cơ thể sau khi đã đưa vào cơ thể tác nhân nhạy ánh sáng qua đường tĩnh mạch hoặc thoa lên da. Ánh sáng kích thích các tác nhân này diệt tế bào, phá hủy các mạch máu nuôi bướu hoặc khởi động hệ thống miễn dịch chống ung thư. Phương pháp này dùng để điều trị một số trường hợp ung thư tại chỗ hoặc các tổn thương tiền ung.

Laser

Là nguồn sáng đơn bước sóng và có thể tập trung lại thành một chùm tia rất hẹp để gia tăng sức mạnh và độ chính xác. Laser dùng để thay thế dao mổ cho các trường hợp cần sự tỉ mỉ chính xác, ví dụ như điều trị các ung thư vùng hầu – thanh quản. Ngoài ra, laser còn dùng để tăng nhiệt độ và phá hủy một vùng nhỏ của cơ thể có chứa bướu, hoặc dùng để hoạt hóa các tác nhân nhạy sáng (điều trị quang động học).

Như chúng tôi đã nêu ở phần đầu, hiện nay, có rất nhiều phương pháp điều trị bệnh ung thư. Mỗi phương pháp điều trị đều có ưu và khuyết điểm riêng. Để lựa chọn và phối hợp các phương pháp này, chúng ta cần dựa vào các phác đồ chuẩn đã được công nhận rộng rãi trên toàn thế giới. Điều trị bệnh ung thư là một cuộc chiến thật sự, một cuộc chiến kéo dài và rất cam go, nhưng không vì thế mà chúng ta bỏ cuộc.

TS. BS Diệp Bảo Tuấn

Phó Giám đốc BV Ung Bướu TP.HCM

TS. BS Nguyễn Anh Khôi

Phó trưởng khoa Ngoại 5, BV Ung Bướu TP.HCM

Theo Tạp chí Sức Khỏe – khoe24h.vn

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phản hồi của bạn

Cùng chuyên mục

Thư Mời Đến Với Hội Thảo Của Bác Sĩ Lương Lễ Hoàng

Bác sĩ Lương Lễ Hoàng – khách mời quen thuộc của Tạp Chí Sức Khỏe, người rất được các độc giả yêu thích qua văn phong hóm hỉnh, bình dị, dễ nghe dễ thấm trong …

Hội diễn văn nghệ Công ty Yến sào Khánh Hòa lần thứ XVI

Chiều 19-10, Công ty TNHH Nhà nước Một thành viên Yến sào Khánh Hòa (Công ty Yến sào Khánh Hoà) đã tổng kết Hội diễn văn nghệ cán bộ, công nhân lao động công ty …

BVĐK SIS Cần Thơ điều trị thành công bệnh nhân bị tắc động mạch phổi cấp tính bằng phương pháp can thiệp nội mạch lấy huyết khối

Lần đầu tiên tại khu vực Miền Tây BVĐK SIS Cần Thơ điều trị thành công bệnh nhân bị tắc động mạch phổi cấp tính bằng phương pháp can thiệp nội mạch lấy huyết khối. Bệnh …

Triển lãm y tế quốc tế Việt Nam thu hút 600 gian hàng đến từ 25 quốc gia tham gia

Chiều ngày 20.08, dưới sự chủ trì và bảo trợ của Bộ Y Tế, Công ty cổ phần ADPEX phối hợp với Hiệp hội Doanh nghiệp Dược Việt Nam và Công ty Cổ phần xuất …

Bệnh viện Nhi Đồng 2 ghép gan thành công cho em bé sinh non bị suy gan giai đoạn cuối do teo đường mật bẩm sinh

Đây là ca ghép gan đầu tiên tại Việt Nam mà người hiến là ông nội của bệnh nhân và người nhận là một bé từng sinh non 3 tháng. Nhân dịp gặp gỡ báo …

Hỗ trợ 24/7
Gửi câu hỏi