Bệnh loãng xương ở người cao tuổi các biện pháp phòng ngừa, chẩn đoán và điều trị

Từ hai thập niên gần đây, loãng xương (LX) đã trở thành vấn đề y tế cộng đồng vì nhiều người mắc (bệnh ảnh hưởng đến 1/3 phụ nữ và 1/5 đàn ông trên 50 tuổi). Cùng với việc gia tăng tuổi thọ, bệnh đang có xu hướng gia tăng rất nhanh trong những năm gần đây và trở thành một trong những bệnh lý mạn tính quan trọng của cộng đồng đặc biệt của người cao tuổi.

Với đặc điểm diễn biến từ từ và thầm lặng, người bị LX thường không biết mình bị bệnh, cho đến khi bị biến chứng gãy xương. Ở người cao tuổi, gãy xương, đặc biệt là gãy đốt sống và gãy cổ xương đùi không chỉ gây tàn phế mà còn gia tăng nguy cơ tử vong. Chỉ có khoảng 30% người bệnh có thể hội nhập trở lại với cuộc sống xã hội, nhưng lúc nào cũng bị nguy cơ tái gãy xương rình rập. Việc phát hiện và điều trị LX từ khi chưa bị gãy xương để ngăn ngừa gãy xương, vẫn đang là một thách thức toàn cầu.

Bệnh LX

LX được định nghĩa là một rối loạn chuyển hoá của bộ xương làm tổn thương sức mạnh của xương đưa đến tăng nguy cơ gãy xương cho con người. Sức mạnh của xương được thể hiện bởi sự toàn vẹn cả về khối lượng và chất lượng của xương.

Từ hai thập niên gần đây, LX đã trở thành vấn đề y tế cộng đồng vì nhiều người mắc (bệnh ảnh hưởng đến 1/3 phụ nữ và 1/5 đàn ông trên 50 tuổi), vì ảnh hưởng lớn tới sức khỏe, kinh tế và xã hội của mọi quốc gia. Cùng với việc gia tăng tuổi thọ, bệnh đang có xu hướng gia tăng rất nhanh trong những năm gần đây và trở thành một trong những bệnh lý mạn tính quan trọng của cộng đồng đặc biệt của người cao tuổi, cần phải được phòng ngừa, chẩn đoán, điều trị theo mục tiêu, quản lý và theo dõi một cách hệ thống giống như một số bệnh mạn tính quan trọng khác như: tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh mạch vành… 

Bệnh LX diễn biến từ từ và thầm lặng. Người bị LX thường không biết mình bị bệnh, cho đến khi bị biến chứng gãy xương. Gãy xương do LX thường gặp nhất ở các đốt xương sống, cổ tay và xương vùng hông (cổ xương đùi). Gãy xương do LX có thể xảy ra ngay cả trong những hoạt động hàng ngày, làm cho người bệnh đau đớn, mất khả năng vận động, mất khả năng sinh hoạt tối thiểu. Đặc biệt ở người cao tuổi, gãy xương, đặc biệt là gãy đốt sống và gãy cổ xương đùi không chỉ gây tàn phế mà còn gia tăng nguy cơ tử vong. Gãy cổ xương đùi trong LX được so sánh tương đương với đột quỵ trong tăng huyết áp và nhồi máu cơ tim trong bệnh mạch vành tim.

  • 20% người bệnh tử vong trong vòng 1 năm.
  • 20% người bệnh phải có người trợ giúp suốt cuộc đời còn lại.
  • 30% người bệnh bị tàn phế, phải phụ thuộc hoàn toàn vào người khác.
  • Chỉ có khoảng 30% người bệnh có thể hội nhập trở lại với cuộc sống xã hội nhưng lúc nào cũng còn bị nguy cơ tái gãy xương rình rập.

Ước tính trên toàn thế giới hiện có trên 200 triệu người bị LX, trong đó 70% là phụ nữ, 9 triệu trường hợp gãy xương hàng năm và cứ mỗi 3 giây có một trường hợp bị gãy xương do LX. Số người bị LX ở Việt Nam cũng được ước tính là 3,5 triệu người. Tuy nhiên con số thật còn cao hơn rất nhiều vì LX đang được đánh giá là bệnh chưa được chẩn đoán và chưa được điều trị đầy đủ (underdiagnosed and undertreat) ở nhiều quốc gia, kể cả các quốc gia phát triển. Việc phát hiện và điều trị LX từ khi chưa bị gãy xương để ngăn ngừa gãy xương, vẫn đang là một thách thức toàn cầu.

Theo thông báo của Liên đoàn chống bệnh LX Thế giới (IOF), hiện nay, chi phí cho bệnh LX tương đương với chí phí cho bệnh tiểu đường và lớn hơn tổng chi phí cho cả hai bệnh ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ (ung thư vú và ung thư tử cung). Tuy nhiên, chi phí lớn nhất cho bệnh LX hiện nay là để điều trị biến chứng gãy xương, đặc biệt là gãy cổ xương đùi, chỉ riêng các chi phí điều trị cho các vấn đề liên quan đến biến chứng gãy xương của bệnh đã đưa bệnh LX trở thành một trong những bệnh mạn tính tiêu tốn nhiều tiền nhất. Gãy xương do LX có thể xảy ra sau té ngã, thậm chí sau những va đụng nhẹ trong những hoạt động hàng ngày, gãy xương làm cho người bệnh đau đớn, mất khả năng vận động, mất khả năng sinh hoạt tối thiểu trở nên tàn phế, phải sống cuộc sống phụ thuộc và gia tăng nguy cơ tử vong. Chính vì vậy, việc phòng ngừa, phát hiện và điều trị sớm để ngăn ngừa bệnh, ngăn ngừa nguy cơ gãy xương của bệnh có vai trò cực kỳ quan trọng.

 

Chẩn đoán LX

LX là bệnh không khó chẩn đoán, nhưng vì không có triệu chứng đặc hiệu trong giai đoạn đầu nên thường được chẩn đoán trễ, khi đã có biến chứng gãy xương.

  1. Các biểu hiện lâm sàng
  • Đau mỏi mơ hồ ở cột sống, đau dọc các xương dài (đặc biệt xương cẳng chân), đau mỏi cơ bắp, ớn lạnh, hay bị chuột rút (vọp bẻ) các cơ…
  • Đau thực sự ở cột sống, đau lan theo khoang liên sườn, đau khi ngồi lâu, khi thay đổi tư thế. Có thể xuất hiện đau cấp trên nền đau mạn tính (thường xuất hiện sau các chấn thương sinh hoạt (té, trượt chân, chống tay, với đồ vật ở cao, bê xách vật nặng, xoay người đột ngột…) gây gãy xương đốt sống hay gãy cổ xương đùi…
  • Đầy bụng chậm tiêu, nặng ngực khó thở, mệt… do bị thu hẹp lồng ngực và khoang bụng.
  • Gù lưng, vẹo cột sống, giảm chiều cao, hạn chế khả năng vận động…

Tuy nhiên, LX là bệnh diễn biến âm thầm, người ta thường ví bệnh giống như một tên ăn trộm thầm lặng, hằng ngày cứ lấy dần lượng canxi trong ngân hàng dự trữ xương của cơ thể con người. Khi có dấu hiệu lâm sàng, thường là lúc đã có biến chứng, cơ thể đã bị mất tới 30% khối lượng xương.

  1. Các yếu tố nguy cơ liên quan đến mật độ xương thấp và nguy cơ gãy xương của từng cá thể
  • Chỉ số khối cơ thể thấp.
  • Hút thuốc lá, uống nhiều rượu bia.
  • Không hoặc ít hoạt động thể chất.
  • Các bệnh lý đi kèm và các thuốc cùng dùng.
  • Thiếu lượng canxi, vitamin D… trong chế độ ăn hàng ngày. 

  1. Về cận lâm sàng, thông thường người bệnh sẽ được kiểm tra bằng 2 biện pháp
  • Chụp X quang xương và cột sống để tìm các dấu hiệu của LX và gãy xương.
  • Đo khối lượng xương bằng phương pháp hấp phụ năng lượng tia X kép (DXA) ở các vị trí trung tâm (cổ xương đùi, cột sống thắt lưng) được coi là kỹ thuật vàng để đáp ứng với tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán LX của Tổ chức Y tế thế giới.

Một số phương pháp khác như đo hấp phụ năng lượng quang phổ đơn hoặc kép, chụp cắt lớp điện toán định lượng, siêu âm định lượng, MRI, cũng có thể áp dụng khi không hoặc chưa có máy đo bằng phương pháp DXA.

Phân loại LX

  • LX người già (LX tiên phát): Có đặc điểm là tăng quá trình hủy xương và giảm quá trình tạo xương; nguyên nhân do các tế bào sinh xương (Osteoblast) bị lão hoá, sự hấp thụ canxi và vitamin D ở ruột bị hạn chế, sự suy giảm tất yếu các hormon sinh dục (ở cả nữ và nam). LX tiên phát thường xuất hiện muộn, diễn biến chậm, tăng từ từ và ít có những biến chứng nặng nề như gãy xương hay lún xẹp các đốt sống.
  • LX sau mãn kinh: Có đặc điểm là tăng quá trình hủy xương trong khi quá trình tạo xương vẫn bình thường do sự ngưng đột ngột hoạt động của buồng trứng, làm thiếu hụt oestrogen, vì vậy các tế bào hủy xương không được kiểm soát.
  • LX thứ phát: Khi có một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ sau đây: còi xương suy dinh dưỡng, thiếu canxi từ nhỏ, khối lượng xương lúc trưởng thành thấp, ít hoạt động thể lực, bị các bệnh mạn tính đường tiêu hoá (dạ dày, ruột…) làm hạn chế hấp thu canxi, vitamin D, protid… có thói quen sử dụng nhiều rượu, bia, cà phê, thuốc lá… làm tăng thải can xi qua đường tiết niệu và giảm hấp thu canxi ở đường tiêu hóa, giảm hoạt động của các tuyến sinh dục nam và nữ (mãn kinh, mãn dục nam…), bất động quá lâu ngày do bệnh tật, bị các bệnh nội tiết: cường tuyến giáp, cường tuyến cận giáp, cường tuyến vỏ cường thận, tiểu đường… bị bệnh thận mạn, suy thận hoặc phải chạy thận nhân tạo lâu ngày gây rối loạn chuyển hóa và mất canxi qua đường tiết niệu, mắc các bệnh xương khớp mạn tính (đặc biệt là viêm khớp dạng thấp, viêm khớp cột sống và thoái hoá khớp), phải sử dụng dài hạn một số thuốc: thuốc chữa bệnh tiểu đường (insulin), thuốc chống đông (heparin) và đặc biệt là các thuốc kháng viêm nhóm cortiosteroid (cortiosteroid một mặt ức chế trực tiếp quá trình tạo xương, mặt khác làm giảm hấp thu calci ở ruột, tăng bài xuất canxi ở thận và làm tăng quá trình huỷ xương).

 

Có thể phát hiện sớm và phòng ngừa bệnh LX

Phụ nữ quanh tuổi mãn kinh, người trên 60 tuổi cả 2 giới, người trẻ tuổi nhưng có các yếu tố nguy cơ (nêu trên) nên:

  1. Tầm soát các yếu tố nguy cơ gây LX và gãy xương.
  2. Đi khám bệnh sớm, ngay khi có các dấu hiệu đau mỏi mơ hồ ở hệ thống xương khớp, dọc các xương dài (đặc biệt xương cẳng chân), đau mỏi cơ bắp, chuột rút…
  3. Thường xuyên khám bệnh và theo dõi định kỳ.
  4. Luôn có ý thức phòng ngừa LX từ khi chưa có bệnh (trong suốt cuộc đời):
  • Chế độ sinh hoạt, tập luyện tăng cường hoạt động ngoài trời, tập vận động thường xuyên và phù hợp với sức khoẻ, duy trì lối sống năng động, tránh các thói quen xấu: uống nhiều bia, rượu, cà phê, hút thuốc lá…
  • Chế độ ăn uống luôn luôn bảo đảm đầy đủ protein và khoáng chất, đặc biệt là canxi. Vì vậy, sữa và các chế phẩm từ sữa (bơ, phoma, sữa chua…) là thức ăn bổ sung lý tưởng cho một khung xương khỏe mạnh. Chế độ này cần được duy trì suốt cuộc đời mỗi người.
  • Kiểm soát tốt các bệnh lý ảnh hưởng và các yếu tố nguy cơ gây LX và gãy xương (nguy cơ té ngã).

 

Điều trị LX

Mục tiêu quan trọng nhất của điều trị LX là ngăn ngừa biến chứng gãy xương, ngăn ngừa tái gãy xương. Các thuốc điều trị hiện tại có thể làm giảm 50% nguy cơ gãy xương. Nhưng, điều quan trọng là phải chẩn đoán sớm, điều trị sớm, điều trị liên tục và đủ liệu trình (3 – 5 năm hoặc dài hơn).

Hiện nay chi phí lớn nhất LX là chi phí điều trị biến chứng gãy xương, đặc biệt là gãy cổ xương đùi (bao gồm: Chi phí nằm bệnh viện để điều trị gãy xương, kết hợp xương, thay chỏm xương đùi, nẹp vít cột sống, thay đốt sống hay phục hồi chiều cao của đốt sống…; Chi phí điều trị các biến chứng do nằm lâu ở người có tuổi bị gãy xương (vì phải bất động chỗ xương gãy, vì không vận động được) như: viêm phổi, viêm đường tiết niệu, loét tư thế… và Chi phí cho các thuốc điều trị tích cực trong suốt quãng đời còn lại để ngăn ngừa gãy xương tái phát)

Kinh tế nhất, hiệu quả nhất trong việc phòng chống LX là:

  • Đối với tất cả mọi người: Phòng ngừa hiệu quả để giảm nguy cơ mắc bệnh.
  • Đối với những người có nguy cơ LX: Phát hiện và điều trị sớm để giảm nguy cơ bị gãy xương.
  • Đối với những người đã bị LX hoặc gãy xương: Điều trị tích cực để giảm nguy cơ gãy xương và ngăn ngừa tái gãy xương.

 

Các biện pháp điều trị

Điều trị theo mục tiêu trong LXLX đang là một vấn đề lớn của sức khỏe cộng đồng, liên quan với gãy xương ở người cao tuổi. Ngoài việc đo KLX, còn cần quan tâm hơn đến các yếu tố nguy cơ gãy xương của mỗi cá thể. Các yếu tố nguy cơ liên quan đến mật độ xương thấp và gãy xương bao gồm chỉ số khối cơ thể thấp, hút thuốc lá, uống rượu, không hoặc ít hoạt động thể chất, các bệnh lý đi kèm, thiếu lượng canxi, vitamin D trong chế độ ăn hàng ngày. Đã có nhiều thuốc được phát triển và cải thiện sự tuân thủ trong điều trị để làm chậm mất xương, tăng tạo xương và giảm nguy cơ gãy xương, cải thiện kết cục xấu của bệnh. Với các tiến bộ rất lớn trong chẩn đoán và điều trị, chiến lược điều trị theo mục tiêu trong LX đã được khởi xướng và bắt đầu áp dụng từ năm 2017. 

Với điều trị theo mục tiêu, trước tiên, mục tiêu điều trị sẽ được xác lập, người bệnh cùng được tham gia vào việc xác định mục tiêu cho bản thân mình và việc điều trị phải đạt được mục tiêu đã đặt ra để cải thiện kết cục xấu của bệnh (giảm nguy cơ gãy xương, nâng cao chất lượng sống và tuổi thọ).

  • Mục tiêu điều trị sẽ được xác lập là chỉ số T > – 2,5 (với bệnh nhân đã có gãy xương, chỉ số T được khuyến cáo > – 1,5) và nguy cơ gãy xương chung trong 10 năm < 10%.
  • Việc đo lường và đánh giá dựa vào việc đo BMD bằng phương pháp DXA trung tâm (CSTL và xương vùng hông), nguy cơ gãy xương tính theo mô hình FRAX.
  • Các biện pháp điều trị có đủ bằng chứng bao gồm: các bisphosphonates (đường truyền TM và đường uống), denosumab, teriparatide… với thời gian điều trị đủ để đạt được các mục tiêu tuy được xác lập (từ 3 năm trở lên), xem xét thời điểm tạm nghỉ thuốc (Drug holiday), nếu có thể, tùy thuộc vào việc đạt mục tiêu thế nào.

Tiến trình đạt được mục tiêu của bệnh nhân sẽ được đánh giá định kỳ và có hệ thống bằng cách ước tính mức độ tuân thủ điều trị của bệnh nhân, ngoài ra rất cần tăng cường giáo dục và dành thêm thời gian cho người bệnh. Người bệnh cần được theo dõi và đánh giá định kỳ để bảo đảm sự tuân thủ chế độ điều trị (kể cả thuốc, các điều trị ngoài thuốc và phòng tránh té ngã).

Việc sử dụng rộng rãi hơn các phương pháp điều trị, nhắm đến những người cao tuổi, có nguy cơ gãy xương cao nhưng chỉ số T chưa tới mức LX (> – 2,5) đã được chứng minh, có khả năng giảm đáng kể tỷ lệ mắc bệnh LX, gãy xương và nâng cao chất lượng sống.

Các biện pháp điều trị

  1. Thay đổi lối sống và bảo đảm dinh dưỡng là cách tốt nhất vừa để phòng bệnh vừa để điều trị LX. Các biện pháp bao gồm:
  • Tăng cường vận động thể lực.
  • Bổ sung đầy đủ calcium và vitamine D (thông qua thực phẩm và dược phẩm).
  • Phòng, tránh té ngã và điều chỉnh các bệnh lý đi kèm.
  • Hạn chế thuốc lá, rượu bia, tránh lạm dụng thuốc.
  1. Các thuốc dùng cho LX gồm
  • Nhóm thuốc chống hủy xương (nhóm bisphosphonates).
  • Thuốc tăng tạo xương (hormon tuyến cận giáp teriparatide).
  • Các nhóm thuốc khác (vitamin D hoạt hóa, vitamin K2, các hormon đồng hóa).

Các thuốc này sẽ được các thầy thuốc chỉ định tùy mức độ bệnh lý, tình trạng sức khỏe, khả năng dung nạp, các bệnh cùng mắc… của người bệnh.

Nguyên tắc quan trọng nhất của điều trị là:

  • Điều trị phải liên tục, phải dài hạn, mỗi liệu trình phải kéo dài ít nhất 3 năm, sau mỗi liệu trình người bệnh sẽ được đánh giá lại và thầy thuốc sẽ quyết định chế độ điều trị tiếp theo.
  • Luôn luôn kết hợp việc điều trị và các biện pháp thay đổi lối sống và bảo đảm dinh dưỡng và phòng tránh té ngã nêu trên.

 

Phòng ngừa LX 

Thay đổi lối sống và bảo đảm

dinh dưỡng là cách tốt nhất vừa để phòng bệnh vừa để điều trị LX:

  • Tăng cường vận động thể lực: Vận động giúp tạo dự trữ canxi, tăng sự khéo léo, sức mạnh của hệ thống cơ, sự cân bằng nên ít bị ngã và gãy xương. Ngoài ra, vận động còn bảo vệ xương không bị mất thêm, nên tập các vận động chịu lực, chạy hay đi bộ, khiêu vũ, chơi bóng hay đánh cầu đều tốt, chỉ tránh môn thể thao dễ gây gãy xương.
  • Bổ sung đầy đủ các thành phần dinh dưỡng cho cơ thể (đạm, bột đường, chất béo, khoáng chất và vitamin), đặc biệt calcium và vitamine D (thông qua thực phẩm và dược phẩm) vì 2 chất này là thiết yếu để tạo khối lượng xương khi còn trẻ và ngăn ngừa mất xương khi đã có tuổi.
  • Phòng tránh té ngã, phát hiện và điều chỉnh các bệnh lý đi kèm, các thuốc cùng dùng… của mỗi người.
  • Ngưng hút thuốc lá, giảm rượu bia, tránh lạm dụng thuốc.

 

Kết luận

Bệnh LX và các biến chứng nặng như gãy cổ xương đùi, gãy lún đốt sống… là một gánh nặng đối với y tế cộng đồng vì chi phí điều trị cho các biến chứng này rất lớn, vượt quá khả năng của phần lớn bệnh nhân.

Tuy nhiên, phòng bệnh sẽ kinh tế hơn chữa bệnh rất nhiều, đây là giải pháp tốt nhất cho mọi quốc gia, đặc biệt ở các nước nghèo như nước ta.

Hãy phòng ngừa bệnh LX cho mình và mọi người xung quanh bằng việc bổ sung canxi vào khẩu phần ăn hàng ngày và tăng cường vận động càng sớm càng tốt. Nếu khối lượng xương đỉnh lúc trưởng thành tăng 10%, sẽ giảm được 50% nguy cơ gãy xương do LX trong suốt cuộc đời.

Đây cũng là đầu tư cho sức khỏe, việc làm này phải là trở thành ý thức tự giác của các thế hệ, của toàn xã hội, để cải tạo nòi giống, để cải thiện cách ăn uống, sinh hoạt chưa hợp lý của phần lớn các nước đang phát triển ở Châu Á như Việt Nam.

 

PGS. TS. BS Lê Anh Thư

Chủ tịch Hội LX TP Hồ Chí Minh

Phó Chủ tịch Hội Thấp khớp học Việt Nam

Theo Tạp chí Sức Khỏe – khoe24h.vn

Tài liệu tham khảo

  1. Cummings S, Shepherd J, Lewiecki ME, Saag K, Schousboe J. Monitoring Effectiveness of Treat-to-Target Osteoporosis Interventions. Presented at: Clinical Osteoporosis 2017 on April 20, 2017. Orlando, Florida.
  2. Garber AJ. Treat-to-target trials: uses, interpretation, and review of concepts. Diabetes Obes Metab. 2014;16(3):193–205.
  3. White RD. The treat-to-target A1C approach to control type 2 diabetes and prevent complication. Adv Therapy. 2007;24(3):545–559.
  4. Bloomgarden ZT. Cardiovascular Disease and Glycemic Treatment. Diabetes Care. 2010;33(11):e134–e139.
  5. Kolata G. Fearing drugs’ rare side effects, millions take their chances with osteoporosis. New York Times. June 1, 2016. Accessed April 27, 2017.
  6. Strampel W, Emkey R, Civitelli R. Safety considerations with Bisphosphonates for the treatment of osteoporosis. Drug Safety. 2007;30(9):755-763.
  7. Chang Y, Huang C, Hwang J, Kuo J, Lin K, Huang H, et al. Fracture liaison services for osteoporosis in the Asia-Pacific region: current unmet needs and systematic literature review. Osteoporos Int 2017 Dec 28.
  8. Ching-Lung Cheung, Seng Bin Ang. An updated hip fracture projection in Asia: The Asian Federation of Osteoporosis Societies study. Osteoporosis and Sarcopenia 4 (2018) 16 – 21
  9. Reid I. R, Horne A, Stewart A et al. Fracture Prevention with Zoledronate in Older Woman with Osteopenia. N England J Med 2018; 10: 1056

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phản hồi của bạn

Cùng chuyên mục

Loãng xương và gãy cổ xương đùi ở người già - tử vong và tàn phế

Loãng xương là bệnh lý khá phổ biến, chỉ xếp sau các bệnh lý tim mạch. Thế giới hiện có khoảng 200 triệu người mắc bệnh loãng xương, tại Việt Nam là khoảng 2.5 triệu …

Tai biến mạch máu não - Những điều cần biết

Tai biến mạch máu não là bệnh thường gặp ở người có tuổi. Bệnh thường để lại những di chứng nặng nề cho người bệnh, biến họ trở thành gánh nặng cho gia đình và …

Khi người bệnh hiểu sai về ung thư - Sai 1 li - Đi mạng người!

“Có những sai lầm mà con người có thể sửa chữa và làm tốt hơn. Nhưng những sai lầm về căn bệnh ung thư sẽ không còn cơ hội sửa chữa mà phải trả giá …

Rối loạn trí tuệ sau phẫu thuật ở người cao tuổi

Người cao tuổi, sẽ thường gặp những vấn đề liên quan đến té ngã. Và sau chấn thương gãy xương hoặc các cơn đau như thoái hóa khớp, thoái hóa hay gãy cột sống lưng… …

Nguy hiểm khi gãy xương vùng khớp háng ở người cao tuổi

Gãy xương vùng khớp háng có thể xảy ở mọi lứa tuổi nhưng gặp nhiều nhất ở người lớn tuổi từ các chấn thương rất nhẹ. Đây là một chấn thương gây ra hậu quả …

Hỗ trợ 24/7
Gửi câu hỏi